Hiển thị các bài đăng có nhãn b. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn b. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 3, 2017

NGỤY PHẢ !

Nguồn: Trannhuongblog

Phùng Thành Chủng.
Thứ hai ngày 28 tháng 11 năm 2016 8:15 PM


Làm sao em biết bia đá không đau...
(Trịnh Công Sơn)
Truyện ngắn của Phùng Thành Chủng.
1. Thần phả đền Báo Quốc.
Ở trang Hồng Thị vùng Thượng Hồng thuộc Hồng Châu xứ Hải Dương có một ngôi đền gọi là đền Báo Quốc. Theo thần phả, đền được hưng công xây cất vào năm Kỷ Sửu, niên hiệu Kiến Trung năm thứ 5 (1229) đời Trần Thái Tông. Là nơi thờ bà Nguyễn Thị Niềm, người đã có công Hộ quốc an dân và đặc biệt, là người sinh thời có liên quan đến hai nhân vật nổi tiếng là Đông Hải đại vương Đoàn Thượng và Thái sư Trần Thủ Độ.
Theo đó, sau khi nhận thiền vị của Lý Chiêu Hoàng, ngày 12 tháng 12 năm Ất Dậu (1225), Trần Cảnh chính thức lên ngôi tức Trần Thái Tông. Đến đây nhà Trần phải lo đối phó với Nguyễn Nộn ở phía Bắc, Đoàn Thượng ở phía Đông và với một số tù trưởng các động ở phía Tây. Tháng 2 năm Bính Tuất (1226), sau khi bình định xong các Man thuộc vùng núi Tản Viên và Quảng Oai, buộc các tù trưởng ở đây phải thẩn phục, khiến một giải phía Tây tạm yên, Thái sư Trần Thủ Độ đem quân quay sang phía Đông tiến đánh Đoàn Thượng. Hai bên giằng co suốt mấy tháng trời. Không kể những trận đánh nhỏ, chỉ tính những trận đánh lớn, hơn mười lần Thái sư ra quân đều không được lợi. Giữa lúc đó thì một việc bất ngờ xảy ra, khiến Trần Thủ Độ thay đổi ý định và đột ngột lui quân. Đó là một đêm vào tiết mạnh hạ (tháng 4 âm lịch), Trần Thủ Độ đã đi nằm nhưng thấy trong lòng buồn bực, nên trằn trọc mãi vẫn không ngủ được. Nhân đêm đó có trăng, Thái sư liền trở dậy lệnh cho tả hữu kiệu dọc theo sông Cái để xem xét địa thế. Đến quãng gần trang Hồng Thị, Thái sư cho dừng kiệu nghỉ rồi tự nhiên ngủ thiếp đi mất. Chợt thấy khoảng sông trước mặt bỗng dưng ầm ầm nổi sóng mặc dù lúc đó trời không có gió. Rồi, hai người cao lớn khuôn mặt giống nhau như đúc, một vận đồ đen, một vận đồ xanh, cả hai đều tay cầm hốt vàng, phong thái rõ ra con nhà tướng, từ dưới sông rẽ nước đi lên. Đến trước Thái sư, hai người vòng tay thi lễ. Thái sư hỏi họ tên. Người vận đồ đen đáp: “Anh em thần họ Trương, thần là Hống, em thần là Hát; xưa kia vốn theo Triệu Việt Vương cầm quân chinh phạt nghịch tặc. Về sau Triệu Việt Vương mắc phải mưu gian của Lý Phật Tử, cùng đường phải nhảy xuống biển tuẫn tiết. Lý Phật Tử dụ anh em thần ra hàng không được, đã bức anh em thần phải uống thuốc độc tự tử. Thấy anh em thần có công lại có lòng trung nghĩa, nên sau khi anh em thần mất, Ngọc Hoàng thượng đế đã thương tình phong cho thần là Than hà Long quân phó tuần Vũ Lạng nhị giang và em thần là Chi mạn nguyên tuần giang đô phó sứ- là tướng trong hàng thần binh, cai quản một số cửa sông. Thời nhà Ngô, anh em thần đã âm phù giúp Nam Tấn Vương (Ngô Xương Văn) đánh giặc Lý Huy ở châu Tây Long. Đến thời nhà Lý lại giúp Lý Thường Kiệt phá tan quân Tống ở sông Như Nguyệt. Nay nghe tin Thái sư phải vất vả vì việc đánh dẹp Đoàn Thượng nên đến xin được yết kiến. Trần Thủ Độ mừng rỡ: “Nghe danh anh em tướng quân đã lâu, nay mới được gặp. Chẳng hay anh em tướng quân có cao kiến gì chăng?”. Người xưng là Trương Hống liền lấy từ tay áo ra một chiếc túi gấm rồi tiếp: “Mưu kế phá Đoàn Thượng và Nguyễn Nộn ở cả trong này. Nhưng để đổi lại, anh em thần muốn thỉnh cầu Thái sư một việc, mong Thái sư gia ân”. Trần Thủ Độ hỏi: “Việc gì?”, Hống đáp: “Hiện em thần vẫn chưa có người nội tướng. Nghe Thái sư có một người thiếp yêu, vẫn mang theo ở trong quân, thần muốn xin cho em thần...” Nguyên, trước đó Thái sư có tuyển được một người thiếp vào hàng tuyệt thế giai nhân, mới 17 tuổi, tên là Nguyễn Thị Niềm, song chưa động phòng hoa chúc, bởi lời hẹn sau khi phá được Đoàn Thượng mới làm lễ thành thân. Hơi bị bất ngờ trước điều kiện của Hống đưa ra, nhưng sau một hồi suy nghĩ, Trần Thủ Độ gật đầu chấp nhận. “Đa tạ Thái sư đã chiếu cố. Vậy chiếc túi này sẽ coi như thay cho đồ sính lễ- trao chiếc túi cho Trần Thủ Độ, Hống tiếp- Còn bây giờ, anh em thần xin phép cáo lui và xin được rước phu nhân đi trước, chỉ cảm phiềm Thái sư sau đó cho thuỷ táng phu nhân ở khúc sông này”. Dứt lời, cả hai lấy tay đập nước bắn tung mù mịt rồi biến mất không thấy đâu nữa. Trần Thủ Độ giật mình tỉnh dậy, thì ra là một giấc mơ. Hỏi tả hữu, chúng đều trả lời không thấy gì! Vậy mà lạ thay, chiếc túi gấm còn đó và hình bóng anh em nhà họ Trương như vẫn còn lẩn quất đâu đây. Trần Thủ Độ vội vàng mở túi ra xem, chỉ thấy có một bức hoạ vẽ một người ngồi trên đỉnh núi, dáng vẻ ung dung thư thái, và ở phía dưới là hai con hổ, một vàng, một trắng đang đánh nhau. Bất giác, Trần Thủ Độ ngửa mặt lên trời than: “Nếu anh em họ Trương không nhắc thì ta không nghĩ ra!”. Vừa lúc có tin từ quân doanh đến báo: Phu nhân vừa đột ngột qua đời! Theo đó, sau khi sai người đun một nồi nước thơm để tắm. Phu nhân kêu trong người hơi mệt rồi đi nằm. Các thị nữ định gọi Thái y, nhưng phu nhân giơ tay ngăn lại và bảo: “Anh em Trương tướng quân đang chờ ta. Bẩm với Thái sư là ta đi đây!” Nói xong thì mất...
Biết là những điều trong mộng đã ứng nghiệm, Trần Thủ Độ chỉ còn biết than thở hồi lâu rồi lệnh cho đem xác phu nhân ra giữa dòng sông Cái thuỷ táng. Khấn rằng: Nàng đã vì nước phải làm vật hiến tế cho thuỷ thần. Sau khi dẹp xong Nộn, Thượng, ta sẽ tâu xin bao phong và lập đền thờ để được huyết thực muôn đời. Đoạn giết súc vật, đốt mã thả xuống sông, rồi hạ lệnh lui quân...
Trở về kinh sư, Thái sư bàn với vua Trần Thái Tông: “Binh thế của Thượng và Nộn hiện nay đương mạnh, không thể dùng vũ lực mà chế ngự ngay được. Chi bằng phong Nộn làm Hoài Đạo vương, chia cho các huyện Đông Ngạn, Bắc Giang Thượng, Bắc Giang Hạ (nay thuộc hai huyện Từ Sơn và Tiên Sơn- Bắc Ninh), rồi dụ Nộn đánh Thượng. Hai hổ đánh nhau, tất phải có con chết, con bị thương. Bấy giờ, dù Nộn thắng, hay Thượng thắng, thì quân mệt mỏi, vất vả làm sao đương nổi với quân nhàn nhã, nghỉ ngơi, chỉ cần một trận là ta có thể dẹp yên được. Trong binh pháp, đó là kế: “Toạ sơn quan hổ đấu” biến ra “Dĩ dật đãi lao”...
Trần Thái Tôn bèn cho người đem thư và lễ vật đến dụ Nộn. Trong thư có hứa, nếu Nộn thắng được Thượng thì suốt cả một dải từ lộ Bắc giang đến vùng Thượng Hồng, Hạ Hồng sẽ thuộc về Nộn và cho Nộn làm vua. Nộn nhận lời nhưng nấn ná chưa động binh, một mặt vừa để thăm dò, vừa củng cố lực lượng, một mặt nghĩ cách dùng mưu lừa Thượng. Năm Mậu Tý, niên hiệu Kiến Trung năm thứ 4 (1228), Nộn viết thư cho Thượng xin lập ước “hợp tung”. Trong thư có đoạn: “Ngày trước Nộn tôi không biết tướng quân cũng có lòng phù Lý, diệt Trần! Nay đã biết rồi, muốn xin cùng tướng quân được kết hoà hiếu làm nước môi răng với nhau để mưu việc lớn. Chẳng hay ý tướng quân thế nào? Nếu như được tướng quân rộng dung, thì Nộn tôi lấy làm may lắm...”. Được thư, Thượng không nghi ngờ gì cả, nhận lời cùng Nộn làm lễ minh thệ. Ngày mùng 2 tháng Chạp năm ấy, đúng hẹn, Thượng vô tình không phòng bị gì, chỉ mang theo vài chục người thân tín đến Đồng Đao gặp Nộn. Bất ngờ, một tiếng pháo hiệu nổi lên, Thượng bị quân phục của Nộn từ tứ phía xông ra vây chặt vòng trong, vòng ngoài. Biết bị Nộn lừa, Thượng tả xung hữu đột chém được mấy chục thủ cấp; nhưng thế cô, cuối cùng phải dùng kiếm tự sát! Nộn nhân đó đánh lấy Hồng Châu, kiêm tính luôn quân của Thượng, tự xưng là Đại Thắng vương, thanh thế rất lừng lẫy. Được tin, Trần Thủ Độ sai sứ đem thư đến chúc mừng, gia phong Nộn làm Hoài Đạo Hiếu Vũ Vương, lại đem công chúa Ngoạn Thiềm gả cho Nộn để ngầm dò la tin tức, chuẩn bị đánh Nộn. Nhưng chưa phải xuất quân thì tháng 3 năm sau (1229), Nộn đã ốm chết. Mất người cầm đầu, quân Nộn chưa đánh đã tan. Đến đây, thiên hạ lại quy về một mối.
Để tưởng nhớ công lao của bà Nguyễn Thị Niềm, Thái sư Trần Thủ Độ cho lập đền thờ bà ở trang Hồng Thị. Nhân đó đặt tên đền là Đền Báo Quốc (Báo Quốc từ). Sắc phong Trinh Thuận Báo Quốc phu nhân Thượng đẳng thần. Cấp cho dân sở tại hai mươi mẫu ruộng tốt và miễn cho ba xuất sưu dịch để lấy người sớm hôm hương lửa. Lại lệnh cho Sử quan cùng với Bộ Lễ soạn thần tích khắc vào bia đá và ghi vào tự điển xếp đền vào hàng Quốc tế. Quy định lấy ngày 11 tháng 4 hàng năm (ngày mất của bà Niềm) làm ngày lễ trọng. Trong ngày này, có các quan ở triều về tế. Được giết trâu, dê và lợn theo nghi thức tế tam sinh. Văn tế, kiêng huý chữ Niềm; nếu viết phải bớt nét và khi đọc phải đọc chệch đi...
2. Đông Hải đại vương Đoàn Thượng (dã sử).
Đoàn Thượng sinh ngày mùng 10 tháng Giêng căm Giáp Thìn, niên hiệu Trinh Phù thứ 9 (1184) đời Lý Cao Tông. Là con của ông Đoàn Trung và bà Nguyễn Thị Loan, người trang An Nhân, huyện Đường Hào, thuộc Hồng Châu, xứ Hải Dương (nay là xã Văn Phú, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên). Tương truyền, ông bà là người hiền lành, phúc hậu, nhưng tuổi đã gần 50 mà vẫn chưa có con. Nghe tin ở trang Sài Khê, huyện An Sơn, phủ Quốc Oai, đạo Sơn Tây, có ngôi chùa Thiên Phúc rất linh ứng, ông bà liền sắm sanh lễ vật, thân đến cầu đảo. Đêm đó, bà mộng thấy hồng quang quanh nơi giường nằm, rồi bất ngờ một con rồng vàng hiện ra, nhìn kỹ, lại hoá thành đôi chim anh tước, bà giơ tay bắt được một con, từ đó cảm động có thai mà sinh ra Thượng. Khi Thượng được ba tháng tuổi thì bà Loan mất vì bệnh hậu sản. Đảm nhận việc nuôi dưỡng Thượng là người nhũ mẫu họ Lưu (và sau này là nhũ mẫu của Thái tử Sảm, tức Lý Huệ Tông). Đoạn tang vợ, ông Trung tục huyền với bà Lê Thị Quang, người xã Trương Xá, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay là xã Trương Xá, huyện Kim Động, tỉnh Hưng yên), sinh được hai trai, một là Câu Mang, một là Sùng Châu (tục truyền do bà ăn nằm với giao long khi tắm ở sông Nghĩa Trụ mà có thai). Tuy là mẹ kế nhưng bà Quang yêu thương Thượng không khác gì con đẻ. Về phần mình, từ nhỏ Thượng đã nổi tiếng thông minh, học đâu nhớ đấy, nhưng chuộng sự thực học, không thích những điều viển vông, vu khoát. Lớn lên, không không chú ý việc sản nghiệp, chỉ thích binh pháp, thơ phú; coi kinh sử là chuyện bá láp làm mê hoặc lòng người, chỉ xem qua cho biết, là người khảng khái có chí lớn. Năm Thượng 19 tuổi, ông Trung và bà Quang nối nhau qua đời. Thượng khóc lóc nhận lời di chúc thay bố mẹ nuôi dạy các em ăn học. Hết thời gian chịu tang, gặp lúc vua Lý Cao Tông xuống chiếu cầu hiền, ông vào kinh ứng thí, được sung vào chức Thị vệ đô hoả đầu. Cùng thời gian này, các đạo Sơn Tây, Sơn Nam, Cao Bằng, Hưng Hoá, Tuyên Quang, giặc giã, trộm cướp nổi lên như ong. Được lệnh cầm quân đi đánh dẹp, ông có làm bài thơ (dịch nghĩa):
Ngọn cờ trận oai hùng ra khỏi ngọc quan
Ba quân đi thẳng tắp không thấy đầu hàng, cuối hàng đâu cả
Vó ngựa có thể khiến cho có sức mạnh nhanh như gió
Trướng hổ chớ ngại nét mặt gầy vì tuyết sương
Nghìn dặm ruổi rong là giấc mộng nghìn dặm
Một lần li biệt là cách biệt thêm một trùng núi non...
Đến khi xẩy ra loạn Quách Bốc, chính ông lại là người hộ giá vua và hoàng hậu chạy đi Quy Hoá. Do có nhiều công lao, ông được phong tới tước vương, làm quan đến chức Triều Liệt vinh lộc đại phu- là bậc trọng thần trong triều. Lý Cao Tông mất, Lý Huệ Tông nối ngôi. Thấy họ Trần nắm hết binh quyền trong nước, biết rõ âm mưu định cướp ngôi của nhà Trần, ông bảo với những người xung quanh: “Lòng ta chỉ biết có nhà Lý, không biết có nhà Trần”, rồi đang đêm một mình, một kiếm chạy ra Đường An cùng hai em mưu việc khôi phục. Được dân chúng hưởng ứng theo về rất đông, ông là người đã khiến cho nhà Trần suốt 16 năm trời mất ăn, mất ngủ. Song, chỉ vì quá tin người, cuối cùng ông bị Nguyễn Nộn dùng mưu hãm hại khi sự nghiệp đang còn dang dở, khiiến cho người đã thác xuống suối vàng còn ôm mối hận ngàn thu...
Cảm ơn đức ông, sau khi ông mất, cả một dải suốt vùng Thượng Hồng, Hạ Hồng, cho đến Sơn Nam Thượng, Sơn Nam hạ, 72 nơi lập đền thờ ông, suy tôn ông là Đông Hải đại vương. Ân uy của đại vương ngay cả sau khi chết vẫn còn hiển lộ. Đương thời, phàm quân sĩ, voi, ngựa của nhà Trần đi qua đền đều bị đại vương vật chết. Sau, Trần Thái Tông phải thân mặc triều phục đến đền tạ lỗi, việc ấy mới thôi...
3. Lễ hội đền Báo Quốc và đền Trung Nghĩa.
Cách trang Hồng Thị và đền Báo Quốc (nơi thờ bà Nguyễn Thị Niềm) không xa là trang An Nhân, nơi có ngôi đền Trung Nghĩa (Trung Nghĩa từ) thờ Đông Hải đại vương Đoàn Thượng. Có điều lạ, lễ hội hàng năm ở đền Trung Nghĩa không tổ chức vào ngày sinh (mùng 10 tháng Giêng), hoặc ngày mất (mùng 2 tháng Chạp) của đại vương, mà lại tổ chức trùng với lễ hội đền Báo Quốc- ngày mất của bà Niềm- người mà theo thần phả ở đền Báo Quốc được coi là kẻ thù của ông- ngày 11 tháng 4 âm lịch. Lạ hơn là những nghi thức trong lễ hội ở đây không mấy ăn nhập với thần tích đền Báo Quốc, nếu không muốn nói còn phản lại thần tích.
...Nửa đêm, vào phút chuyển giao từ ngày 10 sang ngày 11, dưới ánh sáng của những bó thông hồng và những cây đình liệu, dân trang An Nhân tổ chức rước long ngai bài vị của Đông Hải đại vương và theo sau là chiếc kiệu “cầu”- trên để những xấp bẹ chuối bóc từ thân những cây chuối ra- từ đền Trung Nghĩa sang trang Hồng Thị. Cùng thời gian đó, đám rước của trang Hồng Thị cũng khởi hành từ đền Báo Quốc ra ngã ba đi An Nhân. Khác với An Nhân, các chân kiệu cũng như quan viên tế ở đây đều là nữ; đặc biệt là trên kiệu chính không có long ngai, bài vị và các đô tì vác tàn, quạt, nhưng lại có nhóm “nội giá” là các cô gái (chưa chồng) tuổi từ 15 đến 17, có nhiệm vụ mang hài, hốt, xiêm, mũ, áo, gối, tráp trầu. Đến ngã ba, đám rước của trang Hồng Thị dừng lại và tổ chức tế để đón đám rước của trang An Nhân. Lễ vật gồm một mâm xôi trắng và một chiếc thủ lợn (ngậm chiếc đuôi ngang miệng) đã luộc chín đặt trên, gọi là lễ cung đốn. Sau đó, đám rước của hai trang nhập làm một, trang An Nhân đi trước, trang Hồng Thị đi sau, tiến thẳng ra phía bến sông. Tại đây, những chiếc thuyền đinh đã được dân vạn chài của trang Hồng Thị dùng xích sắt ghép lại với nhau, trên lát ván gỗ và bương, vầu phẳng phiu thành một chiếc phao lớn để hộ giá đám rước ra giữa sông (nơi bà Niềm, theo thần tích, làm vật hiến tế cho thủy thần). Đồng thời, một chiếc cầu tượng trưng bằng bẹ chuối (chuyển từ kiệu cầu xuống) cũng nhanh chóng được bắc từ giữa sông vào bờ. Đến đây mới là phần chính của lễ hội. Đầu tiên là nghi thức tế thần Hà Bá. Lễ vật, ngoài cỗ mặn, vàng mã còn có một con cá to đặt trên tấm vải điều trải trên mâm và một con lợn sống khoảng 15- 20 kg. Sau khi tế xong, con lợn bị chọc tiết, đồ mã được đem hoá và tất cả được thả xuống sông. Tiếp đến là lễ triệu vong chạy đàn, do một nhà sư và hai pháp sư đảm nhiệm. Lần này, lễ vật được bày làm ba tầng. Trên cùng là cỗ chay; thứ đến cỗ mặn và cuối cùng là gạo, muối, cháo, bỏng, voi ngựa, hình nhân, quần áo giấy, tiền giấy. Sau khoa cúng Phật, chạy đàn, đến cúng Thánh, rồi cúng các quan xin cho vong được lên bờ. Nghi thức này kéo dài khoảng gần hai tiếng đồng hồ mới kết thúc. Kế đến là thủ tục hoá mã, tưới rượu xuống sông; vãi gạo, muối quanh khu vực hành lễ, và cuối cùng là rước bài vị của vong (bà Niềm) lên long ngai (lúc này đã được đặt trên chiếc kiệu bát cống (kiệu chính) của trang Hồng Thị. Sau đó, mọi người cùng nhau vui vẻ thụ lộc và tổ chức rước trở lại đền. Khác với lúc đi, lần này trang Hồng Thị đi trước, trang An Nhân đi sau, và kiệu chính của trang Hồng Thị đã có hai nội giá cầm tàn và bốn nội giá vác quạt, che trước sau hai bên kiệu. Đến ngã ba, nơi hai đám rước gặp nhau trước đó, các chân kiệu của trang Hồng Thị cho kiệu chính của trang mình quay ba vòng trước kiệu chính của trang An Nhân; tiếp đến, ban tế nữ đại diện cho trang Hồng Thị đến vái lạy trước kiệu của Đông Hải đại vương, và ban tế nam thay mặt cho trang An Nhân đến vái lạy trước kiệu của bà Niềm rồi kiệu trang nào rước về trang ấy. Khởi hành từ đầu giờ Tý, trở lại đền vào cuối giờ Mão, đám rước chung của hai trang diễn ra hoàn toàn trong đêm và kéo dài suốt bốn canh giờ (8 tiếng đồng hồ).
Chưa hết, qua ngày 11, đến tối 11 trang Hồng Thị cho người rước đồ lễ và cử ban tế nữ của mình sang đền Trung Nghĩa làm lễ bái yết Đông Hải đại vương. Ngược lại, trang An Nhân cũng cho người rước đồ lễ và cử ban tế nam của mình sang đền Báo Quốc làm lễ bái yết Trinh Thuận phu nhân (sắc phong của nhà Trần cho bà Niềm). Riêng, ban tế nữ phải cử hành sáu tuần tế (đăng, hương, tửu, hoa, quả, phẩm vật), trong khi ban tế nam chỉ phải cử hành ba tuần (đăng, hương, tửu). Đặc biệt, lễ vật của trang Hồng Thị dâng lên Đông Hải đại vương là những chiếc bánh khúc hình con trai (yoni) có nhân đậu xanh và thịt; còn lễ vật của trang An Nhân dâng lên Trinh Thuận phu nhân là những chiếc bánh cuốn dài, hình trụ (linga) làm từ gạo tẻ có nhân lạc, thịt băm nhỏ hoặc ruốc. Đối với dân hai trang, hai thứ bánh này được coi là hai thứ bánh thánh không thể không có, nếu trang nào vi phạm (điều từ trước tới nay chưa từng xảy ra) sẽ bị coi là phản bội, là sự báng bổ, xúc phạm, lăng nhục đối với trang kia! Sau nghi thức này, lễ hội hai trang mới thực sự kết thúc.
4. Lịch sử đền Báo Quốc hay là lời khẩu truyền về một mối tình.
Câu chuyện được lưu truyền ở Hồng Châu: Tháng 2 năm Bính Tuất (1226), sau khi dẹp yên các Man ở phía tây, Trần Thủ Độ quay sang phía đông tiến đánh Đoàn Thượng. Hồng Châu là vùng tranh chấp, là nơi diễn ra những trận đánh lớn giữa quan quân nhà Trần và Đông Hải đại vương, cuối cuùng, chính Trần Thủ độ lại bị đại vương vây khốn tại đây và phải viết thư xin giảng hoà. Trong thư có đoạn: “Từ xưa tới nay, Độ tôi chưa từng nghe nói có một nhà nào cái trị thiên hạ được mãi bao giờ. Vì thế, sau họ Hùng có học Thục, sau họ Đinh có họ Lê; đó là lẽ tự nhiên, là sự thường tình của đạo trời. Vả lại, Lý Thái Tổ chẳng phải cũng là người thừa tiếp thiên hạ của triều Lê đấy ư? Nay đại vương cứ khư khư bảo rằng có lòng trung nghĩa với nhà Lý, tưởng cũng nên xét lại cho điều ấy, mà bỏ hết hiềm thù cũ, để cùng nhau giúp nước thì Độ tôi đâu dám không biết tự lượng sức mình mà lạm giữa chức Thái sư để mang tiếng là tham quyền cố vị, là không biết người, biết ta. Hiềm vì trước đây chưa có người gánh vác giúp cho mà Độ tôi phải tạm nhận lấy là cũng bởi sự bất đắc dĩ đó thôi! Hoặc giả đại vương không thích sự câu thúc, ràng buộc, mà muốn cắt đất phong vương, thì hoàng thượng đã có mệnh (không phải bây giờ mới nói), nhưng đại vương không đến, chứ triều đình cũng đâu có hẹp hòi gì! Nếu đại vương cho những lời của Độ tôi là phải mà thuận tình nghị hoà thì xin làm lễ minh thệ. Thời gian và địa điểm là do đại vương quyết định, Để chứng minh Độ tôi không phải là kẻ không biết trọng chữ tín. Còn như đại vương không cho là phải, hoặc cho là Độ tôi nay ở vào thế vì bị bức bách mà uốn ba tấc lưỡi để lừa dối đại vương; hoặc đại vương vẫn khư khư bảo rằng có lòng trung nghĩa với nhà Lý, thì Độ tôi dù không muốn cũng chẳng làm thế nào được nữa. Nhưng đến lúc đó, chỉ xin đại vương xét cho điều này: Thắng một Độ tôi trong tay bất quá có vài vạn quân chưa phải là thắng nhà Trần còn vài chục vạn binh hùng, tướng mạnh; lại nữa, hai hổ đánh nhau tất phải có con chết, con bị thương! Độ tôi dù có chết cũng không ân hận gì, mà chỉ lo cho quân của con hổ bị thương là đại vương lúc đó liệu có chống nổi quân của nhà Trần và quân của Nguyễn Nộn nhân lúc đại vương suy yếu đánh lấy Hồng Châu hay không? Vậy quyền để đại vương xem xét nên hay không nên, đừng cho là những lời Độ tôi nói không có căn cứ”.
Xem thư, Đoàn Thượng cười ầm lên: “Người ta vẫn bảo Trần Thủ Độ còn gian hùng hơn cả Tào Tháo, nay quả không sai!”. Biết Thủ Độ có người thiếp yêu là thị Niềm, Đoàn Thượng liền viết thư trả lời Thủ Độ:
“Kính thư gửi quan Tổng binh Thái sư Trần đại nhân.
Được Thái sư chỉ vẽ cho, Thượng tôi thấy sáng ra nhiều lắm! Song, việc cắt đất, phong vương nói ra lúc này e rằng hơi thừa! Còn cái ghế Thái sư là ghế đầu triều, tục ngữ chẳng đã có câu : “Y phục xứng kỳ đức”, Thượng tôi tự xét thấy mình tài hèn, đức mỏng lại chưa có công cán gì, đâu dám đòi hỏi những những điều vượt quá chức phận. Nay nghe Thái sư có người thiếp yêu mới 17 tuổi, tên là thị Niềm vẫn mang theo ở trong quân, Thượng tôi muốn xin nàng về để lấy người nâng khăn, sửa túi coi như là vật trao đổi, chẳng hiểu ý Thái sư thế nào? Nếu như thuận cho, kiệu hoa đưa sang lập tức bãi binh. Còn như không thế, thì dù không muốn Thượng tôi cũng không làm thế nào được nữa! Vậy quyền ở Thái sư định đoạt, không đến lúc đó lại bảo Thượng tôi là người vô tình!”
Nguyên, bà Niềm vốn là dòng dõi của Định Quốc công Nguyễn Bặc thời Đinh Tiên Hoàng. Tương truyền (trùng hợp với đại vương), bố mẹ bà cũng đi cầu tự ở chùa Thiên Phúc, mẹ bà cũng mộng thấy rồng vàng hoá thành chim anh tước (nhưng một chứ không phải hai con) rồi bắt được, nhân đó cảm động có thai mà sinh ra bà. Được dạy dỗ cẩn thận từ nhỏ, ngoài sắc đẹp trời cho, ở bà còn toát ra vẻ đẹp của người có tâm học, khiến người đối thoại bị dẫn dụ, cảm hoá. Hơi bị bất ngờ trước điều kiện của Đoàn Thượng đưa ra, nhưng sau một hồi suy nghĩ, Trần Thủ Độ đã gật đầu chấp nhận. Khi kiệu hoa được đưa đến quân doanh, Đoàn Thượng hỏi bà:
- Ta nghe nói khi đính hôn với nàng, Thủ Độ có hứa là sẽ lấy đầu ta để làm lễ thành thân, việc ấy là đúng hay sai?
- Đúng!
- Bây giờ Thủ Độ đã dâng nàng cho ta, nàng nghĩ sao?
- Bức bách một người đàn bả để thoả mãn lòng ích kỷ và tính hiếu thắng của mình, người đàng hoàng không làm.
- Thủ Độ bị ta bao vây. Tính mạng của hắn đã được ta định đoạt chỉ trong một sớm, một chiều. Nhưng sở dĩ ta chấp nhận nghị hoà là vì lo cho tính mạng của nàng, bởi trong lúc hai bên giao tranh, mũi tên, hòn đạn vốn là những vật vô tình! Chẳng lẽ điều đó không đủ để chứng minh tình cảm của ta đối với nàng sao?
- Đại vương đã nhầm giữa việc đoạt thành, chém tướng với việc thu phục lòng người. Dùng vũ lực và thủ đoạn để đoạt thành, chém tướng thì được; nhưng thu phục lòng người thì không!
- Ta nghĩ Thủ Độ không xứng với nàng.
- Xứng hay không xứng nhưng một lời đính ước ,dù chưa cùng chung chăn gối đã nặng nghĩa vợ chồng!
- Đã vậy ta cũng không ép! Ta sẽ trả lại nàng cho Thủ Độ và...
- ...Và... đại vương vẫn quyết định lui quân?
- Ta vẫn quyết định lui quân!
- Đa tạ đại vương! Tấm lòng của đại vương thiếp xin ghi nhận. Kiếp này đã lỡ, kiếp sau xin sẽ báo đáp...
Nhưng Thủ Độ đã và sẽ không bao giờ hiểu được những tình cảm cao thượng đó. Thấy bà Niềm trở về, nghĩ là bà đã thất tiết với đại vương, nếu lại để bà trở lại cung với địa vị Thái sư phu nhân e sẽ bị thiên hạ chê cười, Thủ Độ liền giáng bà xuống làm thứ nhân và gả cho một viên đô uý họ Trương! Quá uất ức bà đã ra sông Cái, quãng gần trang Hồng thị gieo mình tự vẫn! Được tin đại vương vô cùng thương xót, thân đến tận nơi cho người giăng lưới vớt được xác bà đem lên an táng. Nhân đó lập đền thờ bà ở trang Hồng Thị. Đặt tên đền là đền Trinh Liệt (Trinh Liệt từ), sắc phong: “Trinh Liệt phu nhân thượng đẳng thần”. Gia phả họ Đoàn ở An Nhân còn ghi lại bài văn đại vương khóc bà, trong đó có đoạn:
“Núi cao hề, nước sâu hề!
Chốn trần gian mấy người hiểu nhau
Đã hiểu nhau hề, kết bạn tri âm
Đã kết bạn tri âm hề, xa vạn dặm cũng tìm
Đã kết bạn tri âm hề, nguyện bền núi cao, nước sâu...”
...Hai năm sau, ngày mùng 2 tháng Chạp năm Mậu Tí (1228), đại vương bị Nguyễn Nộn hại! Tháng 3 năm sau (1229), Nộn bị ốm chết. Đến đây, suốt một dải từ Đông Ngạn, Bắc giang Thượng, Bắc Giang Hạ, đến Thượng Hồng, Hạ Hồng lại thuộc về nhà Trần. Để đánh lừa hậu thế về cái chết của bà Niềm, Thủ Độ liền cho phá bỏ đền Trung Liệt, dựng trên nền ngôi đền cũ một ngôi đền mới, đặt tên là đền Báo Quốc. Lệnh cho sử quan huỷ phả cũ, soạn lại phả mới, nguỵ tạo chuyện bà Niềm làm vật hiến tế cho thuỷ thần! Song, ngót tám trăm năm đã trôi qua, bức thông điệp về cái chết của bà Niềm vẫn được lưu giữ và truyền nối qua các thế hệ, bởi những sự kiện lịch sử bị khuất lấp vẫn được dân gian “ghi” lại theo cách của mình...

NGÀY VÔ VI

 Nguồn: Trannhuongblog

Lê Mai
Thứ tư ngày 1 tháng 3 năm 2017 7:07 AM

Truyện ngắn



Quái lạ, mấy ngày nay sắp đến 20 tháng 11 rồi mà chẳng thấy thằng con nhắc nhở việc chuẩn bị phong bì đến thăm thày cô, cũng chẳng thấy nó đòi tiền nộp cho ban phụ huynh học sinh của lớp. Trên đường đèo con đi học tôi phân vân về điều này mãi.
Đường phố hôm nay không bị ùn tắc. Mọi phương tiện giao thông lưu thông êm ả trên đường, không ồn ào, không bụi bặm, không tiếng còi xe ầm ĩ…
lại không có cả chiếc xe cảnh sát rà rà chầm chậm đi sát lề đường, chốc chốc các chiến sĩ cảnh sát lại tung mình ào xuống mặt đường giành giật quanh gánh cùng các bà, các cô bán rau, bán ổi… Thế mà, vỉa hè rất thông thoáng, sạch sẽ chỉ dành riêng cho người đi bộ. Đường đúng là đường, vỉa hè đúng là vỉa hè, không nhập nhằng, lẫn lộn.

Chỉ mươi phút tôi đã dừng xe trước cổng trường con học, giảm được 2 phần 3 thời gian. Đây là lần đầu tiên trong đời xe máy của tôi đi nhanh hơn người đi bộ. Sao thế này? Sao cổng trưởng không có tầng tầng lớp lớp xe máy, cái quay dọc, cái quay ngang rì rì phạch phạch… Muộn học chăng? Tôi lo lắng đẩy xe vào trường. Không! Không muộn. Sao hôm nay sân trường sạch thế? Rác rưởi, bụi bặm đâu hết cả rồi? Những cô giáo duyên dáng trong bộ áo dài dân tộc ân cần, niềm nở với phụ huynh, dịu dàng âu yếm với học sinh… Thế thì đúng “cô giáo là mẹ hiền” rồi còn gì nữa! Những cô cậu học trò mặt mũi sáng sủa thông minh, gọn gàng trong bộ đồng phục không đá vút những quả cầu, quả bóng vào mặt khách, không chạy đuổi đâm sầm vào người lạ… Thấy lạ, tôi quay sang hỏi bác bảo vệ:

- Thưa bác! Hôm nay trường ta đón đoàn kiểm tra nào vậy? của Sở hay của Bộ?

- Không! Có đoàn kiểm tra kiểm triếc nào đâu!

Nghe bác trả lời, tôi giật mình. Thế thì trường đúng là trường, lớp đúng là lớp, thày đúng là thày, trò đúng là trò rồi còn gì. Thôi chết rồi! Mải vui với sự lạ, quên béng mất thời gian, giờ nhìn đồng hồ mới biết: nếu đường thông hè thoáng như hôm nay, phóng nhanh đến cơ quan tôi cũng muộn làm đến 5 phút. Tôi ngây người nghĩ tới việc chỉ mươi phút nữa thôi, mình sẽ bị giám đốc chan tương hắt mẻ vào mặt. Ông giám đốc cơ quan tôi nóng tính cực kỳ. Ai đi làm muộn thì… May mà chúng tôi nhẫn nhục quen rồi. Cất xe xong, tôi đi như chạy vào phòng làm việc. Như mọi lần, giám đốc kia rồi… Tôi cúi đầu bước chậm, chuẩn bị chịu trận…

- Thưa giám đốc, tôi xin lỗi, hôm nay tôi muộn làm 5 phút – Tôi lí nhí.

- Xe hỏng hay tắc đường? - Ông nhỏ nhẹ hỏi tôi.

- Dạ không, xe tốt, đường thông thoáng.

Trả lời xong, tôi khẽ nghiến răng sẵn sàng chịu đựng trận cuồng phong bão tố. Da mặt tôi lúc này đã dày lên, lì ra sẵn sàng chống đỡ.

- Rút kinh nghiệm nhé. Thôi về chỗ làm việc đi – Giọng ông nhẹ như tâm sự với người tình.

Tôi thở hắt ra. Gân cơ toàn thân từ từ giãn, nhẹ nhõm. Tôi ngơ ngác nhìn ông rồi buột miệng nói:

- Thủ trưởng còn chưa mắng chửi em cơ mà. Mọi hôm tính thủ trưởng nóng như lửa… Hay hôm nay vô tuyến truyền hình đến cơ quan ta quay chuyên mục “Chuyện lạ Việt Nam”?

Giám đốc cười xòa, vỗ vỗ vai tôi rồi thân mật nói:

- Các cậu cứ coi tôi là người nóng tính nên tôi đâm ra cũng nghĩ như vậy, nhưng… hóa ra không phải. Người nóng tính là người phải nổi xung với bất cứ ai, chứ mình thì… chỉ nổi xung với cấp dưới, chưa lần nào dám nổi nóng với cấp trên. Thì ra, văn hóa lãnh đạo ở mình quá thấp, chẳng nhận ra quan hệ giữa chúng mình chỉ là quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa đồng nghiệp với nhau trong tình người ấm áp, mà cứ tưởng là quan hệ bố con. Thôi cho mình “tổng xin lỗi” những sỉ vả trước nhé.

Những lời nói chân tình của ông có tác dụng như liều Viagra cực mạnh làm tôi rất phấn khích. Tôi lao về phòng làm việc, hùng hục làm. Làm để đáp nghĩa, để tri ân người thủ trưởng đầy nhân tính. Tôi đang say sưa làm việc với hiệu quả và chất luợng rất cao thì… Bỗng, có lệnh lên gặp giám đốc. Tôi tái mặt, lo lắng. Hay là bây giờ ông ấy mới lên cơn cho gọi tôi lên để trút giận. Trong phòng giám đốc đã có trưởng phòng hành chính tổng hợp đang ngồi co ro như chú cún con ở góc phòng. Tôi run run bước vào thì giám đốc nói ngay:

- Gia đình cậu Tuấn bảo vệ vừa đến báo, cậu Tuấn vừa đi cấp cứu ở bệnh viện Vinh Quang. Hai cậu đến ngay xem gia đình, bệnh viện cần gì ta giúp. Hết bao nhiêu tiền cũng chi. Con người là vốn quí nhất. Tôi lên phòng họp, cho dừng cuộc họp lãnh đạo cơ quan xong là tôi cũng đến ngay viện đấy!

- Cậu Tuấn là bảo vệ, có phải là giám đốc đâu mà đòi hưởng tiêu chuẩn đặc biệt. – Tôi nói.

- Cậu lạc hậu quá! Bảo vệ hay giám đốc cũng đều là con người, đều đòi hỏi phải được đối xử bình đẳng, dân chủ. Chức trách khác nhau chẳng qua là do Đảng và Nhà nước phân công thôi. Thôi, đi đi!

Tôi và trưởng phòng hành chính tổng hợp phi vù vù tới viện. Trong phòng cấp cứu, Tuấn đang nằm thiêm thiếp trên giường bệnh. Xúm quanh anh rất nhiều bác sĩ. Người đang lắng mình nghe tim phổi, người đang đo huyết áp, người đang chăm chú dõi theo nhịp tâm đồ, người nắm chân, bóp tay, người xoa trán… Chẳng bù cho tôi, mấy ngày trước cũng nằm trong phòng cấp cứu này, nằm suốt buổi chẳng thấy ma nào đến hỏi. Đến mức, chỉ thoáng thấy bóng áo trắng, áo xanh là tôi phải cố hết sức rên hòng thu hút tình thương hại. Nhưng họ điếc. Điếc tất. Sau gia đình tôi phải dùng phong bì mới chữa được điếc cho họ… Nhờ sự tận tâm của tập thể bác sĩ, mươi phút sau Tuấn hồi tỉnh. Ông bác sĩ (có lẽ là trưởng nhóm) ân cần nói với chúng tôi và gia đình.

- Gia đình yên tâm, anh ấy không sao đâu. Để chúng tôi theo dõi thêm một chút thời gian nữa cho chắc chắn rồi cho về. Mai đi làm bình thường.

Lời nói ân cần của bác sĩ nghe sướng đến tận tim. Theo kinh nghiệm, tôi nháy mắt ra hiệu với trưởng phòng hành chính tổng hợp. Ông ý tứ xích lại gần bác sĩ và tế nhị đút chiếc phong bì vào túi áo blu. Phải công nhận người thiết kế cái túi áo blu là người cực giỏi, miệng túi ở tư thế nào cũng ngoác rộng, sẵn sàng nuốt gọn phong bì. Ông bác sĩ nhíu mày, thò tay vào túi áo lấy chiếc phong bì giơ lên cao, ông phật ý nói:

- Bác làm gì thế này. Bác coi chúng tôi là loại người gì?

Giữa thanh thiên bạch nhật mọi người ngước nhìn theo chiếc phong bì cồm cộp dầy. Trưởng phòng hành chính tổng hợp cơ quan tôi đỏ lựng mặt, thẹn thùng. Nhìn ông, lần đầu tiên trong đời tôi hiểu được hình tượng “dê già e thẹn”! Trưởng phòng lúng túng thanh minh:

- Có cốc nước chúng tôi thành tâm mời các bác sĩ… Có gì to tát đâu mà bác sĩ phải ngại.

Ông bác sĩ vẫn nghiêm giọng nói:

- Bác có biết như thế là bác sỉ nhục chúng tôi không? Bác hãy nhìn xem…

Ông chỉ ngón tay lên phần cao của bức tường trước mặt. Chúng tôi ngước mắt nhìn theo. Trên đó lấp lánh dòng chữ đỏ: “Lương y như từ mẫu”. Ông chỉ ngón tay lệch sang bên phải, thấp hơn một chút, ở đó trang trọng treo một tấm biển trắng chói lòa dòng chữ đỏ: “Lời thề HYPOCRAT…” Lòng chúng tôi ấp áp! Mắt chúng tôi tin yêu!

Bỗng… choang một cái. Không phải sét mà như sét! Tôi giật mình choàng dậy… Thì ra, đó là một giấc mơ! Giấc mơ đẹp, mà sao mồ hôi tôi lại toát ra như tắm!

LÊ MAI
Các tin khác

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2017

Đặng Thế Phong: Tài hoa bạc mệnh


  •   LÊ HOÀNG LONG
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau
(Nguyễn Du)
Suy từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, người tài hoa là người bạc mệnh, kẻ hồng nhan thường đa truân. Nhìn vào làng nhạc, nhạc sĩ Đặng Thế Phong là điển hình rõ nét nhất.
Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định. Ông là con trai Đặng Hiển Thế, thông phán Sở Trước ba. Nam Định. Thân phụ ông chẳng may mất sớm, gia đình túng thiểu, ông phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc thành chung (deuxième année primaire supérieure, nay là lớp bảy cấp hai phổ thông). Vướng vào cái nghiệp văn nghệ từ thủa còn nhỏ nên ông đã lên Hà Nội theo học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Ecole supérieure de Beanx Arts) với tư cách bàng thính viên (auditeur libre). Đặng Thế Phong đã thực sự lấy nghề nuôi nghiệp: thời gian theo học này, ông đã phải vẽ tranh cho báo Học Sinh (chủ báo là nhà văn Phạm Cao Củng) để có tiền ăn học. Trong một kỳ thi, ông đã vẽ một bức tranh cây cụt,  không có một cành nào. Lúc nạp bài, giáo sư Tardieu, thầy dạy ông đã nói rằng có lẽ Đặng Thế Phong không thọ!
Ông đã phiêu du vào Sài Gòn rồi sang Nam Vang vào đầu năm 1941 và mở một lớp dạy nhạc tại kinh đô xứ Chùa Tháp cho đến mùa thu 1941 ông lại trở về Hà Nội.
Cũng giống như Mozart lúc sinh thời, Đặng Thế Phong là một nhạc sĩ rất nghèo, nên cuộc sống của ông chật vật. Ngoài tài làm nhạc, vẽ tranh, ông còn có giọng hát khá hay, tuy chưa được là Ténor nhưng cũng được khán giả hâm mộ. Lần đầu tiên ông lên sân khấu, hát bài Con Thuyền Không Bến tại rạp chiếu bóng Olympia (phố Hàng Da Hà Nội) vào năm 1940, được hoan nghênh nhiệt liệt.
thai-thanhCa sĩ Thái Thanh, người hát rất hay những nhạc phẩm của Nguyễn Thế Phong

Đặng Thế Phong là một thiên tài, nhưng vẫn ;không có được cuộc sống sung túc giữa cố đô Thăng Long lúc bấy giờ vì nhạc và tranh dù có hay, có đẹp đến mấy chăng nữa cũng chẳng có mấy ai mua.
Thời ấy, chính quyền bảo hộ Pháp có mở một phòng triến lãm tranh tại hội Khai Trí Tiến Đức, khu Bờ Hồ Hoàn Kiếm. Sau lễ khai mạc được ông Đốc Lý thành phố Hà Nội đến cắt băng, người ta thấy những người đến xem tranh phần rất lớn toàn là ông Tây, bà đầm, còn người Việt thì đúng là lơ thơ tơ liễu buông mành, nhìn kỹ thấy toàn là các quan ta, những công chức cao cấp, giới trí thức, thượng lưu chứ chẳng thấy một dân thường nào! Ngoài ra, thời bấy giờ chính quyền Pháp có tổ chức mở phòng triển lãm là bảo trợ cho các hoạ sĩ Pháp trưng bày tranh của mình còn hoạ sĩ Việt Nam thì số người lọt được vào, ta có thể đếm trên đầu ngón tay. Đến nhạc thì nếu có in, mỗi lần xuất bản cũng chỉ in nhiều nhất là 500 bản, dân chúng chưa yêu chuộng nhạc cải cách (tân nhạc) nên dù có thực tài thì cũng không thể có được một cuộc sống sung túc nếu nhờ vào sức lao động nghệ thuật!
Đặng Thế Phong phải chịu một cuộc sống khó khăn, chật vật trong “kiếp con tằm đến thác vẫn còn vương tơ” cho đến đầu năm 1942, ông từ giã cõi đời tại căn gác hẹp ở phố Hàng Đồng Nam Định vì bệnh lao màng (tuberculose péritonique), hưởng dương 24 tuổi, tuổi son trẻ, đầy thơ mộng, sắp bước vào thời xây dựng sự nghiệp (tam thập nhi lập).
Cuộc đời của Đặng Thế Phong thật quá ngắn ngủi nhưng đời sống tinh thần của ông rất phong phú và thi vị. Nhờ thế mà tuy sáng tác chỉ có ba bài :
Con Thuyền Không Bến, Đêm Thu, Giọt Mưa Thu.
Nhưng bài nào cũng trở thành vĩnh cửu, qua hơn nửa thế kỷ vẫn là những bài hay nhất của làng nhạc Việt Nam. Nhạc hứng chân thành đều phát xuất từ con tim, vì thế mà sáng tác của ông có hồn, đi vào lòng người và sống mãi ! Qua Đặng Thế Phong, ta chứng minh được văn nghệ tính phẩm chứ không tính lượng (quý hồ tinh bất quý hồ đa) . Con người làm văn nghệ viết được một câu để đời đã là khó, được một tác phẩm để đời là đáng mãn nguyện lắm rồi . Với âm nhạc, người chuyên sư? dụng một nhạc cụ cho thật điêu luyện được tôn kính hơn là người biết sử dụng nhiều thứ đàn, chẳng thế nào có được một thứ thật tuyệt hảo. Về sáng tác cũng vậy, làm cho nhiều, cố nặn cho lắm, thê? điệu nào cũng có bài thì dù viết cả ngàn bài chưa chắc đă có lấy một bài có giá trị nghệ thuật và vĩnh cửu! Chỉ sáng tác có ba bài thôi, Đặng Thế Phong đã sống mãi trong lòng mọi người, chắc chắn là hơn người có cả ba trăm bài mà chẳng có một bài nào để người ta nhớ !
Với nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng, muốn thành công là phải có tài năng thiên phú chứ không thể nhờ vào thời gian, kiên nhẫn, sách vở, trường lớp hay bằng cấp mà đạt được! Vì thế chúng tôi dám tôn vinh Đặng Thế Phong là một thiên tài của làng nhạc Việt, thật không ngoa.
Cuộc đời Đặng Thế Phong đã có được một mối tình thật chung thủy tuyệt đẹp: Khi còn ở Nam Định, Đặng Thế Phong đã đem lòng yêu một thiếu nữ buôn bán ở Chợ Sắt, chợ duy nhất và lớn nhất của thành phố. Cô này không đẹp nhưng lại rất có duyên. Sau nhiều ngày đi chơi chợ, Đặng Thế Phong đã lọt vào mắt mỹ nhân. Cặp tình nhân trai tài, gái đảm đã dìu nhau vào cuộc tình thật trong sáng và cao thượng! Điều đáng ca ngợi là chàng nhạc sĩ tài hoa ho. Đặng không bao giờ đụng chạm đến đồng tiền của người yêu, dù cho người đẹp, tên Tuyết, nhiều lần khôn khéo bày tỏ lòng mình muốn giúp chàng. Những buổi chiều trời quang, mây tạnh hay gió mát, trăng thanh, hai người đều dìu nhau trên những con đường ngoại ô để tâm tình. Thời bấy giờ, nhiều thanh niên rất ngưỡng mô. Đặng Thế Phong, khi biết mối tình của cặp Phong – Tuyết, đều mến trọng và tôn kính là một cuộc tình lý tưởng!
Đặc biệt nhất là mấy cô gái phố Hàng Đồng, gia đình rất khá giả tỏ lòng yêu mến Đặng Thế Phong, nhưng ông vẫn một lòng yêu cô Tuyết, dù cô không đẹp bằng mấy cô kia . Có một hôm, mấy cô kia đang đứng nói chuyện với nhau thấy Đặng Thế Phong đi qua, với lối đi có vẻ vội vã. Thấy bóng ông, mấy cô ngưng bặt, rồi chẳng cô ai bảo cô nào, tất cả ánh mắt đều hướng về ông như dán chặt vào người ông vậy. Khi Đặng Thế Phong vừa bước tới ngang chỗ các cô thì một giọng nói đầy hờn dỗi pha thêm mai mỉa, được nói lớn lên, cố ý cho Đặng Thế Phong nghe thấy:
– Mấy chị đứng dịch ra, người ta đi vội kẻo trễ hẹn.
Đặng Thế Phong nghe rõ nhưng coi như điếc, cứ rảo bước như không có gì xảy ra. Đến nơi hẹn, gặp cô Tuyết đã đứng chờ, Đặng Thế Phong kể cho cô nghe vụ vừa bị chọc ghẹo. Cô Tuyết không nói gì mà chỉ tủm tỉm cười với ánh mắt nhìn người yêu thật là trìu mến. Về nhà, Đặng Thế Phong không nói ra với anh chị em mà thầm thì kể cho ông chú họ, cùng lứa tuổi, là ông Nguyễn Trường Thọ biết thôi . Ngoài ra, ông còn kể cho ông Thọ nghe chuyện cô Tuyết có một chàng thông phán trẻ, đẹp trai, có tiền, có địa vị, làm ở Tòa Đốc Lý thành phố theo đuổi, còn nhờ cả hai người mai mối nhưng cô nhất quyết khước từ , bất chấp cả lời dị nghị của mọi người, nhất là gia đình cố ý gán ghép.
Năm 1940, Đặng Thế Phong phải tạm xa cô Tuyết để lên Bắc Giang ít ngày. Ai đã đến Bắc Giang là biết thị xã này có con sông Thương, một con sông có hai dòng nước, bên đục, bên trong. Kẻ viết bài này, lúc bé học ở Bắc Giang, vào những ngày hè nóng bức, cùng bạn bè ra sông bơi. Đứng từ trên cầu ra tháp nước khá cao, nhìn thấy rõ hai dòng nước đục trong rõ rệt ! ở Bắc Giang, một buổi tối trăng sao vằng vặc, Đặng Thế Phong đã cùng bạn bè thuê thuyền cấm sào rồi cùng nhau chén chú, chén anh hàn huyên mọi chuyện. Đang lúc đang vui thì có người ra đưa cho Đặng Thế Phong một bao thư. Ông ngưng ngay chuyện trò và vào trong khoang, lấy bao diêm ra đốt lửa để coi thư và đây đúng là thư của cô Tuyết, từ thành Nam gửi lên cho ông. Đọc xong thư, ông có vẻ buồn và suy nghĩ. Bạn bè thắc mắc nên hỏi, được ông cho biết thư báo tin cô Tuyết nhuốm bệnh cả tuần rồi và nhớ ông lung lắm nên có lẽ ông phải về Nam Định gấp! Chính đêm này, lúc đêm sắp tàn, Đặng Thế Phong thao thức không sao chợp mắt được, đã ngồi dậy sáng tác được tác phẩm Con Thuyền Không Bến buồn não ruột:
Đêm nay thu sang cùng heo may …
Đêm nay sương lam mờ chân mây
Thuyền ai lờ lững trôi xuôi giòng
Như nhớ thương ai trùng tơ lòng…
.. Lướt theo chiều gió
Một con thuyền theo trăng trong
Trôi trên sông Thương nước chảy đôi dòng
Biết đâu bờ bến?
Thuyền ơi thuyền trôi nơi nao
Trên con sông Thương nào ai biết nông sâu?…
Hai hôm sau Đặng Thế Phong từ giã bạn bè, rút ngắn thời gian để về Nam Định. Được tin Đặng Thế Phong đã về, cô Tuyết thấy bệnh thuyên giảm rất nhanh. Và tối hôm sau hai người hẹn gặp lại nhau. Lúc ấy miền Bắc đang vào Thu, gió heo may kéo về mang cái lạnh. Tối hôm ấy trăng lên muộn, trời tối gió nhẹ làm cho hai người thấy thích thú đi bên nhau đê? sưởi ấm lòng nhau sau bao ngày xa cách. Dìu nhau đến nơi cũ, Đặng Thế Phong ghé sát tai cô Tuyết, hát nhẹ nhàng, giọng rạt rào tình cảm như rót vào tai cô bài Con Thuyền Không Bến mà ông vừa sáng tác trong một đêm trắng trên sông Thương vì thương nhớ cô. Khi hát xong, Đặng Thế Phong phải lấy khăn tay ra nhẹ nhàng lau hai dòng lệ đang từ từ chảy xuống má cô với lòng xúc động không kém! Lúc ra về, Đặng Thế Phong nói: Làm được một bài nhạc nhờ em, nay về được hát cho em là người đầu tiên nghe, thế là anh sung sướng lắm rồi!
Cô Tuyết cũng đáp lại lòng tri kỷ: “Là một người đàn bà tầm thường như em mà đã làm cho anh có được một bài hát thì với em đó là một vinh dự , một hạnh phúc thật cao sang, không phải ai ở trên đời cũng có được ! Tình anh trao cho em thật trọn vẹn, thật bất diệt, chắc chắn không bao giờ hình ảnh anh bị phai mờ trong tim trong óc em được, bây giờ và mãi mãi”. Đến lúc ấy chị Hằng mới ló mặt ra dịu dàng nhìn xuống trần thế và chứng giám hai người yêu nhau đang đứng sát bên nhau sau khi đã uống cạn lời nói của nhau. Sau hôm ấy, Đặng Thế Phong mới cho phổ biến rất hạn chế trong đám thanh niên tỉnh nhà bài Con Thuyền Không Bến, được mọi người yêu chuộng nên rất nhiều người biết đến.
Chính vì thế mà có một người ở Hà Nội mới mời Đặng Thế Phong lên Hà Nội để hát tại rạp chiếu bóng Olympia bài hát của mình. Trong buổi ấy, Đặng Thế Phong ra sân khấu hát Con Thuyền Không Bến đầy xúc động vì ngay ở hàng ghế đầu, cô Tuyết đã bỏ hẳn một ngày chợ để lên Hà Nội nghe người yêu hát bài làm vì mình và cho mình! Riêng với Đặng Thế Phong, ông xúc động là phải vì với số khán giả đông đảo không đáng ngại mà là trong lòng ông thầm nghĩ hát hôm nay rất cần và chỉ cần để một người nghe là đủ nên phải mang hết tài trí ra biểu diễn sao cho thành công ! Hát xong, khán giả vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt.
Sau một thời gian ở Bắc Giang, ông nhuốm bệnh. Vì lúc đó bệnh lao là nan y nên ông dấu mọi người, ai biết đều sợ bị lây nhiễm không hiểu sao cô Tuyết biết được. Cô Tuyết rất tế nhị và khôn khéo hỏi Đặng Thế Phong:
– Sao dạo này em thấy anh gầy và xanh lắm, Anh có bệnh gì không mà em thấy sút lắm ! Anh đi nhà thương khám và thuốc men, cho khoẻ để mình còn tính đến tương lai!
Ông ậm ừ cho qua. Từ đó cô Tuyết âm thầm tìm mọi cách để giúp người yêu trong lúc nhà nghèo bệnh trọng. Đặng Thế Phong cũng đến nhà thương để khám bệnh. Sau khi dò hỏi, biết bệnh của ông, cô Tuyết nhân quen với một số y sĩ (médecin indochinois) làm ở nhà thương, mua thuốc rồi nhờ ông ta nhận là thuốc của nhà thương, ông lấy cho Đặng Thế Phong.
Thuốc bệnh lao lúc ấy vừa hiếm lại vừa đắt, cô Tuyết không những không ngại tốn kém, mà còn thường xuyên gặp Phong để săn sóc một cách kín đáo, kể cả không sợ bị lây . Về phần Đặng Thế Phong thì ông không hề biết thuốc là của cô Tuyết mua cho mình.
Trong các cuộc tình cao đẹp của văn nghệ sĩ , có hai nữ lưu đáng để người đời ca tụng : cô Tuyết biết người yêu bị bệnh nan y, rất dễ lây, Mộng Cầm biết Hàn Mặc Tử bị bệnh phong cùi, vừa ghê sơ. vừa dễ lây thế mà hai ngườí đã có tình yêu chân thật, chung thủy, không những không sợ mà còn hết lòng chăm sóc, thuốc men cho đến ngày tử biệt ! Thật hiếm hoi và cao quý vô cùng !
Mùa xuân năm 1941, cô Tuyết cùng Phong từ Nam Định lên Hà Nội dể tiễn chân và tạm biệt Đặng Thế Phong vào Sài Gòn (rồi đi Nam Vang). Ở kinh đô xứ Chùa Tháp, ở Hòn Ngọc Viễn Đông một thời gian thấy cuộc sống cũng không được thoải mái như ý mong muốn, Đặng Thế Phong trở về Hà Nội . Về lần này, Đặng Thế Phong không về Nam Định mà thuê một căn gác hẹp tường cây, mái lá ở làng trồng hoa Ngọc Hà, vùng ngoại ô thành phố Hà Nội . Đặng Thế Phong ở chung với chú là ông Nguyễn Trường Thọ. Bệnh tình Đặng Thế Phong tái phát ngày một nặng vì người bị bệnh này phải mua thuốc men đầy đủ, phải nghỉ ngơi và ăn uống tẩm bổ tối đa mà những điều phải ắt có và đầy đủ này, với Đặng Thế Phong không thể có được. Chính vì thế mà không tuần nào là cô Tuyết không lên thăm và lo chữa bệnh cho Đặng Thế Phong.
Tháng Bảy mưa ngâu tầm tã, rả rích suốt ngày này sang ngày nọ, tháng này qua tháng khác, gió lạnh kéo về, nhà thì tường cây, mái lá, lạnh buốt lọt xương, cuộc sống kham khổ khiến bệnh tình Đặng Thế Phong ngày càng trầm trọng. Từng cơn ho làm rũ người, tiếp đến những cơn thổ huyết làm cho Đặng Thế Phong ngày một sút hẳn đi. Một mình trên giường bệnh, Đặng Thế Phong nhớ gia đình thì ít mà nhớ người yêu thì nhiều. Thân xác thì bệnh tật khó qua, tâm trí thì luôn luôn phải vật lộn với trăm ngàn ý nghĩ và hình ảnh cuộc tình tươi đẹp nên bệnh mỗi lúc một tăng. Còn đâu những cuộc hẹn hò thơ mộng, quên làm sao được những lời thủ thỉ ân tình và hy vọng gì ở những ước vọng được thành đôi chim nhạn tung trời mà bay, tất cả đã được Đặng Thế Phong ngày đêm day dứt , tiếc thương, muốn níu kéo lại thì cũng chẳng còn gì dể bám víu !
Đặng Thế Phong đã mang lấy nghiệp vào thân thì đời con tằm đến thác cũng còn vương tơ, tránh sao thoát khỏi cái lưới trời thưa mà khó lọt ấy ? Chính vì lẽ ấy mà Đặng Thế Phong đã thực sự thê? hiện được câu các cụ đã dạy cọp chết để da, người ta chết để tiếng, dù cuộc đời ông ngắn ngủi với 24 mùa lá rụng, một cuộc đời ngắn đến nổi đo chửa đầy gang
Thế rồi, một hôm mưa rơi tầm tã, giọt mưa lộp bộp trên mái lá, thánh thót từng giọt xuống đường, Đặng Thế Phong buồn quá, con tim như thắt lại, máu trào lên để có được một nhạc hứng lai láng, tràn trề khiến ông gượng ngồi dậy viết một hơi điệu nhạc buồn da diết, não nề. Ông viết xong bèn đặt tên cho sáng tác mới ấy là Vạn Cô? Sầu . Chập tối ông Thọ về có thêm dăm người bạn đến thăm, Đặng Thế Phong ôm đàn hát cho mọi người nghe . Nét mặt của mọi người nín thở nghe, đều buồn như muốn khóc. Nghe xong, ai nấy đều khen bài hát thật hay, xoáy vào tim vào óc nhưng cái tên bài bi thảm quá, nên sửa lại thì hơn. Chính vì thế mà Đặng Thế Phong, đổi tên là Giọt Mưa Thu . Có lẽ đây là cái điềm báo trước, là lời di chúc tạ từ nên Đặng Thế Phong lấy mưa ngâu, mùa mưa là dòng nước mắt tuôn chảy lênh láng của Chức Nữ với Ngưu Lang để ví cuộc tình Phong – Tuyết cũng phải cùng chung số phận phũ phàng giống vậy chăng ?
Đến một ngày cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi lưỡi hái của tử thần, Đặng Thế Phong mới ngỏ ý trở về Nam Định để được chết tại quê nhà và muốn ông Thọ dìu ông về. Về nhà, lần này cô Tuyết đích thân đến hàng ngày để chăm sóc, thuốc men cho Đặng Thế Phong, không ngại mệt mỏi và không sợ nguy hiểm đến bản thân mình. Những người quen biết đến thăm, thấy cảnh ấy đều mũi lòng và khâm phục lẫn mến thương cuộc tình cao quý, chung thủy của cặp Phong -Tuyết.
Không biết có phải là tại thần giao cách cảm hay không mà một hôm, nhạc sĩ Bùi Công Kỳ đột nhiên từ Hà Nội về Nam Định thăm Đặng Thế Phong lại vừa đúng lúc Đặng Thế Phong sắp lìa đời . Trên giường bệnh, phút lâm chung, không nói gì được với nhau, Bùi Công Kỳ ôm đàn hát cho Đặng Thế Phong nghe một lần chót bài Giọt Mưa Thu, Giọng hát Bùi Công Kỳ vừa dứt thì mọi người nhìn thấy Đặng Thế Phong mở cặp mắt nhìn như ngỏ lời chào vĩnh biệt rồi nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng.
Một vì sao Bắc Đẩu của làng nhạc Việt Nam, vừa ló dạng trên bầu trời đã vụt tắt gây niềm xúc động mãnh liệt và niềm thương tiếc vô bờ trong lòng mọi người ! Trong tang lễ, nam nữ thanh niên của thành Nam đã lũ lượt kéo nhau đi , chật cả phố phường để tiễn đưa Đặng nhạc sĩ đến nơi an nghỉ cuối cùng với rất nhiều cặp mắt rưng rưng lệ ! Cô Tuyết xin phép và được cả hai gia đình, mặc đại tang, đúng như một người vợ trong tang lễ chồng, thật là cảm động.
Năm 1960, tại Phú Nhuận, tôi được tiếp một thiếu phụ chưa hề quen biết. Sau lời chào hỏi, bà tự giới thiệu tên là Tuyết, người Nam Định, di cư vào Nam hiện ở Ban Mê Thuộc. Nhân lần vô tình đọc trên báo Tư. Do, thấy quảng cáo trước cuốn Nhạc sĩ danh tiếng hiện đại (tập II) của tôi sắp xuất bản, viết về năm nhạc sĩ trong đó có Đặng Thế Phong, nên bà về gặp tôi để xin tôi cho bà mượn hình của cố nhạc sĩ, chụp lại để về thờ. Trước kia, bà đã có nhưng lúc sắp di cư tấm ảnh đó bị thất lạc, kiếm mãi không sao thấy . Tôi vội lấy ảnh đưa ngay . Cậu cháu đi theo bà mang ngay ra tiệm hình ở đầu hẻm chụp gấp lấy ngay, xong trở vào gửi trả lại tôi . Trong lúc cậu cháu đi chụp hình, tôi có hỏi bà về chuyện tình tươi đẹp như bài thơ trong sáng như trăng mười sáu thì bà Tuyết xác nhận những điều tôi biết là đúng và còn bổ sung cho tôi thêm ít nhiều chi tiết . Bà cũng không quên nói lên điều thắc mắc là tại sao tôi biết rõ thế ? Tôi nói thật ngay là được ông chú Nguyễn Trường Thọ cho tôi mượn ảnh, kể rành rẽ cuộc đời ái tình của Đặng Thế Phong cho tôi nghe . Bà cười và nói :
– Chú Thọ tuy là chú nhưng cùng tuổi với anh Phong, nên hai người vừa là chú cháu vừa có tình bạn bè nên trong ggia đình chỉ có chú Thọ là được anh Phong tâm sự mà thôi . Thảo nào ông biết quá rõ, quá đúng và quá đủ ! sau lời cám ơn và trước khi ra về, bà Tuyết còn nói với tôi câu cuối cùng, đến nay đã 35 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ:
– Cho đến ngày hôm nay, và mãi mãi về sau, tôi tôn thờ anh Phong và đời tôi luôn luôn thương nhớ anh ấy với tất cả cái gì trân trọng nhất.
Viết ra những giòng trên đây, tôi xin được phép coi là nén hương lòng, suy tôn một bậc đàn anh khả kính và khả ái . Tuy anh đã ra người thiên cổ hơn nửa thế kỷ rồi nhưng những Con Thuyền Không Bến, Đêm Thu, Giọt Mưa Thu vẫn là những vì sao tinh tú sáng rực trên bầu trời ca nhạc. Thể xác anh có thê? trở về hư không nhưng tinh anh vẫn còn lại muôn đời với giang sơn gấm vóc này . Cuộc đời con người ta, sinh ký, tử quy đó là luật muôn đời của tạo hoá nhưng khi sống cho ra sống, lúc về được qua Khải Hoàn Môn, khi cất ba tiếng khóc chào đời, mọi người hân hoan cười mừng đón ta, khi nhoẻn miệng cười để lìa đời, mọi người thương tiếc khóc ta, thế mới thật là sống, mới đáng sống !
Anh đã vĩnh viễn ra đi nhưng tất cả những thế hệ hậu sinh, dù chưa được biết anh, khi hát những bài hát bất hủ của anh để lại, đều tưởng nhớ đến anh, một thiên tài mà ta có thể nói anh là một MOZART của Việt Nam, với tất cả tấm lòng kính mến trang trọng nhất !
Tôi cả tin rằng, dưới suối vàng. anh cũng có thể mỉm cười mãn nguyện. Hiển linh, anh về chứng giám và nhận cho nén tâm nhang này.
( Nguồn: VHNA)