Thứ Sáu, 10 tháng 3, 2017

MÙA XUÂN TINH KHÔI


Long lanh, long lanh mắt sương
                                              Trên ngọn cỏ mềm
Nhẹ nhàng, nhẹ nhàng
                                            Mùa xuân tỉnh giấc
Trong lành Ban mai
                             Sương mờ như tấm voan
                                                   thơ mộng .
Em đến với anh bằng tình yêu mùa xuân
                                             Nồng nàn hơi thở
                                              Trong sáng ngây thơ
Cho anh phút giây say đời ngây ngất
Như những cánh chim yêu thương bay bổng.
Bầu trời bao la,
Tình yêu  dịu ngọt.
Em cho anh những tia nắng hồng
                                                Ấm áp cuộc đời.
Đôi bàn tay em dịu dàng
                                    Khỏa lấp trong anh nỗi niềm cay đắng
Suối tóc em mềm mại,
                                    Tươi màu cây  xanh
Chỉ  có em thôi
Mùa xuân tinh khôi.
Con người tham sân si cố hữu.
Phút giây bên em, hạnh phúc diệu kỳ.
Mùa xuân nồng thắm!

                                                Hưng yên tháng 3 năm 2017

TA XA HÀ NỘI ( Nỗi buồn tê tái của một người Hà Nội)

Nguồn: Ngominhblog

Nguyễn Khôi  

  TA XA HÀ NỘI 

( Nỗi buồn tê tái của một người Hà Nội)

 

Ngày nghỉ lễ
thôi, ta xa Hà Nội
về Nhà Quê nghỉ dưỡng thỏa tâm hồn
xa để “thoát” lấn chen, xô đẩy
tìm nơi “buồn” yên tĩnh, dịụ dàng hơn…


Ô
i Hà Nội,
đi xa cho bớt “sợ”đường cây xanh bị “đốn” nắng vỡ đầu
xe ùn tắc, kinh bọn len cướp giật
“Người Tràng An thanh lịch” ở đâu đâu?


Ôi Hà Nội,
phố phường xây chắp vá ,
cầu Long Biên để “rỉ” đến bao giờ?đường gốm sứ bụi bám hoen mưa nắng
gái quần đùi đến bẹn phóng xe đua…


Ôi Hà Nội,
còn mấy Nàng thỏ thẻ?
mở miệng  ra là “đ. mẹ” chửi thề
dân tứ xứ vào Kiếm Tiền, chụp giựt…
còn góc nào thanh thản
uống Cafe’?


Ôi Hà Nội,có điều gì không ổn?như trên mâytrên gió “cấp điều hành”?
mong sớm có một Tràng An thanh lịch
để ta vềsoi bóng xuống Hồ Gươm. 
            —–Viết tại Gia Lộc- Hải Dương 28-4-2015        NGUYỄN KHÔI
(Nhà văn Hà Nội)


Thứ Tư, 8 tháng 3, 2017

“Giáo dục Việt Nam hiện nay như đang đào tạo Voi, Hổ, Bò tót…”




(GDVN) – PGS.TS Nguyễn Văn Nhã: “Tôi giật mình khi có đồng nghiệp khoe rằng tham khảo 10 trường ĐH tiên tiến nhất để xây dựng chương trình của riêng mình…”.
Tiếp tục cuộc trao đổi với PV Báo Giáo dục Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Văn Nhã – nguyên Trưởng Ban Đào tạo ĐH Quốc gia Hà Nội, Hiệu trưởng Trường ĐH Nguyễn Trãi nhận định, thay đổi cách thức thi tốt nghiệp THPT chỉ là điểm khởi đầu trong một chuỗi đổi mới nền giáo dục. Vấn đề cấp bách hiện nay là phải nghiêm túc xem xét lại công tác đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng… nơi trực tiếp cung cấp sản phẩm ra xã hội.
Trẻ con nghĩ gì? Thầy Giáo nghĩ gì? Xã hội nghĩ gì?
PGS Nhã phân tích, đổi mới thi tốt nghiệp THPT chỉ là việc đầu tiên cần làm, tiếp theo đó phải đổi mới chương trình – SGK; tiếp đó phải thay đổi chương trình đào tạo ở các trường sư phạm, bồi dưỡng giáo viên… Tuy nhiên, song song với những điều chỉnh ấy mà không giải quyết được bài toán phân luồng thì vẫn xảy ra tình trạng ùn ùn kéo nhau vào đại học, sau đó thất nghiệp lại quay sang học nghề, vừa tốn kém cho các gia đình, xã hội cũng có thêm gánh nặng.
“Tôi nói thật là chúng ta đang nghĩ đến thượng tầng nhiều, hãy nghĩ đến hạ tầng cơ cơ sở: Xã hội nghĩ gì? Thầy giáo nghĩ gì? Trẻ con nghĩ gì? Chúng ta đổi mới mà lực lượng người thầy chưa đủ đáp ứng được thì chúng ta chắc chắn thất bại. Chúng ta đổi mới một sản phẩm nhưng kỹ sư, kiến trúc sư không đáp ứng được thì chúng ta phải phá dây truyền sản xuất ấy để làm lại.
Tôi lấy thí dụ, nước Đức sau khi thống nhất đã phá hết các nhà máy của Đông Đức để đưa công nghệ Tây Đức vào. Họ có thành công không? Lịch sử đã ghi nhận họ rất thành công. Từ đó nhìn trở lại bài toán giáo dục của nước ta, bàn đi bàn lại mà chưa tìm thấy đường thoát, và quanh quẩn mãi với vấn đề sửa đổi sách giáo khoa gây tốn kém cho xã hội. Vậy chúng ta chọn đúng chưa? Nếu chúng ta chọn đúng thì phải tìm mọi cách làm cho xã hội hiểu, hiểu rồi thì mới đồng thuận, và dù tốn kém đến mấy cũng phải làm. Nhưng nếu nó không thuyết phục, không thể hiệu quả được, thì dù chỉ một đồng cũng không được phí phạm”, PGS Nhã chia sẻ.
PGS.TS Nguyễn Văn Nhã: "Chúng ta có thể tổ chức thi đại học quanh năm, tại sao cứ dồn vào một kỳ?". Ảnh: Ngọc Quang.
PGS.TS Nguyễn Văn Nhã: “Chúng ta có thể tổ chức thi đại học quanh năm, tại sao cứ dồn vào một kỳ?”. Ảnh: Ngọc Quang.
Theo PGS Nhã, với mục tiêu đổi mới đặt ra, Việt Nam sẽ thay đổi được nền giáo dục, nhưng cần bao nhiêu năm và mục tiêu cụ thể phải đạt được như thế nào thì chưa ai xác định được.
“Cựu Tổng thống Nam Phi – ông AQ Nelson Mandela đã từng nói một câu rất sâu sắc: “Giáo dục là một vũ khí đầy sức mạnh mà chúng ta có thể sử dụng nó làm thay đổi thế giới”. Ireland là một bài học thú vị khi họ vươn lên từ cái gốc là giáo dục và Singapore cũng vậy. Cả hai quốc gia này đều phải mất tới 40 năm để thay đổi nền giáo dục và trở thành cường quốc về khoa học kỹ thuật.
Còn Việt Nam thì sao? Bấy lâu nay, chúng ta vẫn nói giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhưng trên thực tế thì chưa phải vậy. Tiền rất nhiều nhưng tiêu vào đâu, có hiệu quả không? Vừa rồi có đại biểu quốc hội đã phát biểu rất thẳng thắn là quốc hội cần phải kiểm soát được ngân sách trung ương cấp cho địa phương, nếu cấp tiền đầu tư vào giáo dục thì dứt khoát phải vào giáo dục chứ không thể đưa sang lĩnh vực khác. Cứ loay hoay thế này thì còn lâu giáo dục mới là hàng đầu được”, PGS Nhã nói.
Cũng theo PGS Nguyễn Văn Nhã, ngoài chuyện đổi mới thi tốt nghiệp THPT, Bộ Giáo dục cũng nên tính ngay tới đổi mới thi đầu vào đại học.
“Thi lấy chứng chỉ ngoại ngữ có làm quanh năm được không? Câu trả lời là có. Thi lái xe có tổ chức quanh năm được không? Câu trả lời là có. Khám sức khỏe làm căn cứ học tập, làm việc có làm quanh năm được không? Câu trả lời là có. Vậy thì tại sao lại cứ phải dồn học sinh vào một kỳ thi đại học khiến cho cả xã hội căng thẳng? Với việc cải cách thi tốt nghiệp THPT hiện nay thì năm tới đây các trường đại học sẽ phải tự tổ chức thi đầu vào vì kết quả phổ thông không đáng tin cậy, như vậy là vẫn tốn kém đấy chứ, và cũng chỉ thi đầu vào có một lần.
Tôi đã nói nhiều lần rồi là chúng ta phải dũng cảm đổi mới đi, hoàn toàn có thể xây dựng các trung tâm khảo thí ở 3 miền trên cả nước, và mỗi năm tổ chức thi vài lần. Đầu năm các em thi trượt thì về ôn luyện, 3 tháng sau có thể đến thi, chứ đâu nhất thiết phải chờ đợi thêm cả một năm? Trên thang điểm ấy, học sinh đăng ký vào các trường phù hợp”, PGS Nhã bày tỏ.
Quá nhiều cử nhân thất nghiệp phản ánh sự thất bại của giáo dục
Bàn về sự việc hàng trăm nghìn cử nhân thất nghiệp đã được nêu ra tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, PGS Nguyễn Văn Nhã nhận định, đây là hệ quả tất yếu khi chưa giải quyết được bài toán phân luồng, chưa kiểm soát chặt kết quả học và thi THPT, cộng với tâm lý sính bằng cấp nên ai cũng muốn học đại học dù không trả lời được: Học đại học để làm gì?
“Ở bậc THPT đã không siết được, nhưng ở bậc đại học thì nhiều chỗ cũng dễ dãi, nhiều trường không đảm bảo điều kiện đào tạo nhưng vẫn tồn tại, tuyển sinh, rồi phát bằng thì thất nghiệp là điều không tránh khỏi. Tôi nghĩ nhà nước cần sớm siết lại hệ thống các trường đại học, nhà nước chỉ nên chi phí cho những ngành đặc thù, còn lại phải để cho các trường tự chủ thì lập tức chất lượng đào tạo phải nâng lên, nếu không thể nâng lên được thì phải tự đóng cửa”, PGS Nhã chia sẻ.
PGS Nguyễn Văn Nhã phân tích, nguyên nhân sâu xa dẫn tới sự yếu kém của nền giáo dục Việt Nam hiện nay là vì “không có triết lý giáo dục” rõ ràng, mà đây là điều tối kỵ trong khoa học.
PGS Nhã chia sẻ: “Tôi còn nhớ ở một trường Đại học có đồng nghiệp khoe tham khảo chương trình đào tạo của 10 nước tiên tiến nhất để xây dựng thành chương trình đào tạo của mình. Tôi giật mình kinh hãi, bởi lẽ chương trình đào tạo của mỗi quốc gia có một triết lý đào tạo khác nhau, một thiết kế logic chặt chẽ khác nhau. Chúng ta không thể ghép cơ học để ra một chương trình hợp lưu mà chương đầu là voi, chương 2 là đại bàng, chương 3 là bò tót! Như thế là lại làm hỏng sự nghiệp đào tạo một cách hồn nhiên, cách tốt nhất bây giờ là chọn lấy một mô hình tiên tiến thế giới đã thành công để áp dụng.
Trong một lần tham dự hội thảo khoa học tôi có nghe ý kiến của đại biểu nước ngoài: Nếu Việt Nam mà có sáng tạo độc đáo, thành công chưa nước nào làm được thì nên mời các nước đến cùng học và làm theo, sức mạnh quốc tế sẽ nhân lên gấp bội; nếu chưa chọn được giải pháp hay thì nên học và tham khảo các bài học thành công của các nước! Họ cũng đang coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhất là Nhật Bản. Nhưng học kinh nghiệm của người ta thì cần thận trọng, học đến đầu đến đũa, nếu không thì than ôi, hỏng không cứu lại kịp!”.
Vấn đề nguy hiểm của nền giáo dục Việt Nam hiện nay không chỉ là câu chuyện đào tạo “hình ống”, thiếu kỹ năng trầm trọng, mà hầu hết cử nhân đều “mù tịt” ngoại ngữ. Vì vậy, PGS Nhã nói: “Tôi ủng hộ quan điểm của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam là bắt buộc phải thi môn ngoại ngữ ở kỳ thi tốt nghiệp THPT, nếu không nâng được trình độ ngoại ngữ thì chúng ta sẽ tụt hậu thê thảm ngay ở khu vực chứ chưa nói gì tới thế giới.
Tôi nói không hề ngoa rằng nếu so sánh thì thậm chí chúng ta còn thua cả Lào. Tôi đã có vài dịp sang công tác tại ĐH Quốc gia Lào, trời ơi từ lãnh đạo nhà trường  cho tới các nhân viên mọi phòng ban đều nói tiếng Anh, tiếng Việt rất tốt. Nhưng điều khiến tôi bất ngờ hơn cả là một nhân viên bảo vệ và một cán bộ phụ trách ký túc xá cũng nói tiếng Việt và tiếng Anh rất tốt. Còn ở ta, nhiều người học xong cả thạc sĩ mà còn không đủ tự tin giao tiếp thì còn nói gì tới nghiên cứu tài liệu, và thế là chỉ dám nói tiếng Việt thôi. Mà xin lỗi, nói tiếng Việt nhiều khi còn sai”.
Ngọc Quang
Theo Giáo Dục Việt Nam
Facebook Commen

Thứ Ba, 7 tháng 3, 2017

Nhà văn đàn bà Trang Hạ bàn về…đàn bà

Nhà văn Trang Hạ. Ảnh: VNN
Trích lời nhà văn Trang Hạ trả lời trên VNN ” Người phụ nữ luôn đòi hỏi người bạn đời phải thật tốt đẹp nhưng chúng ta chẳng bao giờ nghĩ được, bản thân người phụ nữ đã làm gì để xứng đáng với sự tốt đẹp của đàn ông.
Đó là lý do tôi cho rằng, tìm một người chồng tốt, không quan trọng bằng việc bạn phải trở thành một người phụ nữ xứng đáng để sống một cuộc đời hạnh phúc. Và nếu như là họ nghĩ được như thế, chắc chắn họ sẽ biết cách làm cho bản thân trở nên thú vị, say mê hoặc có giá trị.
Và nếu như bạn là một người phụ nữ thú vị, bản thân bạn đã là người phụ nữ độc lập và có một quan điểm xã hội tích cực như thế thì tôi tin những người đàn ông tốt sẽ nhìn ra giá trị của bạn.
Rõ ràng, việc hạnh phúc hay không, mỗi người phải tự chịu trách nhiệm hơn là đỏi hỏi hay là trao quyền vào tay kẻ khác.”

NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG THÂN ĐỂ LẠI GÌ CHO ĐỘC GIẢ?

Nguồn: NguyễnXuânDiệnblog

Nhà văn Nguyễn Quang Thân. Ảnh từ FB của Lê Thiếu Nhơn.

NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG THÂN ĐỂ LẠI GÌ CHO ĐỘC GIẢ?

Lê Thiếu Nhơn
 
Sáng nay 7-3-2017, linh cữu nhà văn Nguyễn Quang Thân được hỏa táng tại Phúc An Viên, quận 9, TPHCM. Cuộc đời 82 năm của ông đã khép lại, nhưng những trang văn của ông mở ra trước mặt bạn đọc như thế nào?

Sinh ra ở vùng đất Hương Sơn – Hà Tĩnh, 14 tuổi Nguyễn Quang Thân đã tham gia thiếu sinh quân. Năm 1957, khi đang theo học Trường trung cấp Thủy lợi, Nguyễn Quang Thân đã có tác phẩm đầu tay là truyện vừa “Nước về” lấy chất liệu từ ngành nghề mình được đào tạo. Nguyễn Quang Thân có 13 năm công tác ở Sở Thủy lợi Hải Phòng, trước khi chuyển sang tạp chí văn nghệ Cửa Biển của thành phố cảng!

Cuộc đời Nguyễn Quang Thân nếm trải không ít thăng trầm và ruổi rong. Tuổi 60 ông rời Hải Phòng lên Hà Nội lưu trú hơn 10 năm, rồi lại chuyển vào Sài Gòn cư ngụ gần 10 năm nay. Ở đâu, Nguyễn Quang Thân vẫn giữ cốt cách mình, mạnh mẽ và hào sảng. Trong nghề văn, có người sống nhạt viết hay và cũng có người sống hay viết nhạt, nhưng Nguyễn Quang Thân không hề tách bạch giữa sống và viết. Trang văn của Nguyễn Quang Thân luôn phản ánh đúng con người Nguyễn Quang Thân: chân thành, sâu sắc và thường pha chút hóm hỉnh chua cay!

Từ cuốn sách khởi nghiệp “Nước về” đến lúc buông tay vào cõi khác, Nguyễn Quang Thân viết liên tục và bền bỉ suốt 60 năm. Không ngày nào ông ngơi nghỉ quan sát và suy tư, không viết văn thì viết báo. Nguyễn Quang Thân luôn sốt ruột trình bày thao thức của mình với thời cuộc, với lương tri, với nhân quần. Dĩ nhiên, không ít người dị ứng với những câu chữ của Nguyễn Quang Thân, nhưng ông chọn lựa phương pháp sống đúng tư cách một văn sĩ! Nguyễn Quang Thân không cầu cạnh ai, không luồn cúi ai và cũng không đố kỵ ai. Ông đối mặt với chính mình, đối mặt với bản thảo, để làm một con người đứng đắn và gan góc!

Ngoài tập truyện thiếu nhi “Chú bé có tài mở khóa”, Nguyễn Quang Thân chú trọng hai đối tượng để khai thác là người nông dân và người trí thức. Trong hàng trăm truyện ngắn Nguyễn Quang Thân để lại, dù khắt khe chừng nào cũng có thể làm được một tuyển tập ấn tượng về đề tài nông thôn. Những truyện ngắn như “Cánh đồng mới gặt”, “Bờ hoang”, “Búi cỏ trên đường làng”, “Gió heo may” hoặc “Vạt áo đời người” giúp độc giả có cái nhìn thấu đáo hơn về số phận những con người sau lũy tre xanh, họ vật lộn với mưa nắng, họ vật lộn với hủ tục, họ vật lộn với định kiến để tồn tại lầm lũi và kiêu hãnh!

Viết về người nông dân, điều Nguyễn Quang Thân luôn nhấn mạnh là ý thức nguồn cội. Dù thoát ly chiếc nôi vườn tược, thì người nông dân vẫn day dứt khôn nguôi về vùng trời thơ ấu. Ví dụ, truyện ngắn “Cây đắng cay” có đoạn viết về tâm trạng của nhân vật chính: “Sau bốn mươi năm trời phiêu bạt, ông Giáo tém miếng nhút vào giữa chiếc lá đắng cay và ông lặng lẽ nhai, một mùi vị chan chát tràn qua lưỡi rồi dâng lên óc. Ông chợt thấy mình đang bơi giữa sông Phố, ông lên bờ, trần như nhộng, chạy trên bãi cát bên cạnh mấy đứa trẻ trâu rồi cả bọn leo ngược bờ sông dựng đứng lên đồi sim. Gió Lào thổi qua da thịt, những giọt nước đang chảy long tong trên ngực không kịp rơi xuống chân đã bốc hơi mất. Lát sau mồm miệng đứa nào đứa nấy đã đen kịt nhựa sim. Một khoảng trời rộng mênh mông hiện ra phía sau đồi có chiếc cầu vồng thật sặc sỡ, những chiếc cầu vồng thường chỉ hiện ra sau cơn mưa, nhưng ba tháng nay trời không mưa mà vẫn có cầu vồng, ông nhìn thấy mẹ ông đang ngồi đập lụa bên bờ cầu vồng ấy…”.

Dẫu truyện ngắn Nguyễn Quang Thân đạt không ít thành tựu, nhưng đánh giá một nhà văn chuyên nghiệp, thì bút lực của Nguyễn Quang Thân nằm ở tiểu thuyết. Trong 5 tiểu thuyết mà Nguyễn Quang Thân đã xuất bản từ 1977 đến nay, có hai cuốn ghi đậm cá tính sáng tạo của Nguyễn Quang Thân là “Một thời hoa mẫu đơn” in lần đầu năm 1988 và “Ngoài khơi miền đất hứa” in lần đầu năm 1990. Cũng giống như truyện ngắn “Vũ điệu cái bô” nổi tiếng của Nguyễn Quang Thân, cả hai tiểu thuyết trên đều bung phá từ cảm hứng đổi mới, lý giải thân phận người trí thức giằng co với kinh tế thị trường để nhận diện lại nhiều giá trị bị lung lay. Nguyễn Quang Thân rút tỉa sự thay đổi “thành phố tằn tiện vào ban ngày, xa xỉ vào ban đêm, thứ ăn chơi làm lương tâm áy náy thì cần bóng tối” và Nguyễn Quang Thân cồn cào nỗi âu lo “nếu coi con người không ra gì, thì cả sự nghiệp này vứt đi hết”.

Qua 21 chương của “Một thời hoa mẫu đơn”, Nguyễn Quang Thân nghiêm khắc cảnh tỉnh: “Những người có quyền thực sự thường muốn dùng quyền lực một cách tối đa mà không nghĩ là quyền lực chỉ là một tài khoản ủy thác chứ không phải họ tự có, họ chỉ có quyền tiêu pha theo luật lệ cho phép mà thôi. Quyền lực vốn là một yếu tố tạo nên kỷ luật và kỷ cương cho một xã hội ổn định. Nhưng lòng say mê quyền lực và sự oai vệ là chuyện khác. Nó làm tha hóa con người, làm con người lầm lạc về những cái mình không có và tạo ra chủ nghĩa quan liêu”.

Còn qua 28 chương của “Ngoài khơi miền đất hứa”, Nguyễn Quang Thân đau đáu làm sao tránh khỏi một “xã hội không cần nhà phát minh, không cần nghệ sĩ. Vàng có khắp nơi.. . Bóp họng người khác là ra vàng. Hèn mạt, phản trắc, lừa lọc, ngậm miệng lại như hến cũng ra vàng, cái thân phận chỉ lo sao chường ra một bản mặt khiêm tốn, chín chắn và biết kính trên nhường dưới.. . chẳng thà không làm việc gì hết còn hơn hùng hục làm mà thất lễ với cấp trên”.

Bây giờ nhà văn Nguyễn Quang Thân đã đi xa, để lại cho chúng ta những lời tâm huyết trên từng trang viết lặng thầm!

L.T.N

SUY NGẪM VỀ HẠNH PHÚC



Dẫu gập gềnh, sông cũng về biển
Mây có bay cũng hóa mưa nguồn
Những tháng ngày khao khát em,
Tình yêu trong anh như lửa cháy
Hóa dung nham núi lửa phun trào.

Hạnh phúc đến bởi tình yêu nồng cháy
Như màu xanh cần có nắng mưa
Tiếng véo von nhờ bầu trời rộng mở
Hạt giống gieo có quả ngọt dâng đời.

Hiều lòng mình để ung dung tự tại
Dưỡng tình yêu trong cõi vô thường
Những giây phút tan trong trời đất
Hạnh phúc giản đơn thế đó! Em Yêu.

Dẫu đi suốt cuộc đời này
Tìm em…..Tìm em…Ta tìm mãi.
Trong nay, mai, trong cả cõi vô thường.
Chắt chiu giữ những tháng ngày lặn lội
Để cho nhau giây phút bình yên.

Hưng Yên tháng 3 năm 2017

Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017

Dân tộc này có dựa dẫm thánh thần mà đi?

Nguồn: Ngominhblog

  •   PHẠM XUÂN HOÀNG


Dân tộc này có dựa dẫm thánh thần mà đi?
Tôi cứ vấn víu một câu hỏi: liệu dân tộc này có dựa dẫm thần thánh mà đi hay có việc lễ hội cầu phật thánh thần chỉ là bề nổi của tảng băng chìm- dân tộc này đang thiếu hụt đức tin cần bù đắp? Việc đi lễ, cầu phật thánh thần là đang nuôi dưỡng mình bằng niềm tin vào các bậc bề trên, bù đắp những thiếu vắng trong đời sống thực tại nhiễu nhương. Đó cũng là sự giải phóng đức tin sau một thời kỳ dài Nhà nước ta ít nhiều cảnh giác với tôn giáo, tín ngưỡng.
  Thực tế, đức tin vào tôn giáo giống như một cầm nắm một thứ vũ khí nhằm tăng cường sức mạnh chống chọi với đời sống chứ không phải là dựa dẫm vào nó để phát triển tiến lên. Dựa dẫm phải là dựa vào một lực lượng thực tế, trần thế chứ không thể dựa dẫm vào cái siêu nhiên, cái siêu thực! Người Việt vẫn gắng gỏi bằng ý chí nghị lực của mình. Chứ số đông người Việt không sùng bái đến mức mê muội.
Mỗi cá thể người sống với những biểu hiện khác nhau: hướng nội và hướng ngoại; thực tế và hư ảo, trừu tượng; trần tục và thiêng hóa, đều là biểu hiện của cái tôi. Cái tôi con người, ngoài những cái có thể biểu hiện ra qua hành vi, hoạt động, có thể hiểu thì còn mảng tôi ẩn ức chìm sâu bên trong không dễ gì hiểu và nắm bắt, ngay cả khoa học cũng khó lý giải được, mà nhiều người vẫn quy nó vào phạm trù tâm linh. Các hành vi tín ngưỡng tôn giáo, phần lớn cũng chỉ là phương thức biểu hiện, thõa mãn cái tôi ẩn ức, cái tâm linh bên trong đó.
Khi ở hoàn cảnh đói nghèo, bất hạnh con người cũng cần có đức tin đã đành; lúc ăn no, ăn ngon, mặc ấm, nhiều thành công, hạnh phúc con người cũng nuôi đức tin vào các bậc bề trên. Đó dường như là một mâu thuẫn, nhưng thực tế, nhu cầu của con người hết sức đa dạng, con người là hết sức phức tạp. Con người không chỉ cần ăn ngon, mặc đẹp, giải quyết những câu chuyện cái bụng mà còn là câu chuyện của trái tim và cái đầu. Lại nữa, nhu cầu thì luôn tăng trưởng mà năng lực và nguồn lực thực tế thì có hạn, nhiều vấn đề phát sinh luôn vượt qua khỏi tầm kiểm soát, con người cần đến đức tin. Chưa nói, ý thức về sự giới hạn của thời gian, không gian luôn thay đổi, kiến thức cũ kinh nghiệm cũ đôi khi không đủ khả năng lý giải trước những đổi thay khiến con người bối rối, con người tạm chấp nhận, con người kiếm tìm và con người lý giải sự tồn tại bằng cái siêu tồn tại và trú ngụ mình trong sự che chở của các đấng bề trên.
Càng ngày với xu hướng cởi mở hội nhập, quyền con người càng được tôn trọng, tự do tín ngưỡng tâm linh là một nhu cầu không thể thiếu. Chúng không thể bị kiểm tỏa bởi ý chí chủ quan và biện pháp hành chính. Việc tăng số người   đi lễ phật thánh thần không phải là điều bất thường mà cái bất thường là thái độ mê muội của con người với việc lễ lạt, ứng xử chộp giật của con người với các cơ sở thờ tự tâm linh, thái độ lạnh lùng giữa con người với nhau trong khi họ sùng bái các tín điều của phật chúa thánh thần.
Nếu đi lễ, cầu cúng mà xã hội vẫn bình yên, con người đối xử với nhau chuẩn mực, tôn trọng, nhân ái. Bạo lực bạo hành giảm, sự lừa lọc giảm, con người tử tế hơn, thì họ theo tôn giáo nào đức tin nào không là vấn đề đáng bàn. Còn trái lại đi lễ chùa thần phật nhiều mà xã hội vẫn loạn, con người kinh doanh chộp giật, đối xử với nhau thiếu hơi ấm tình người, đạo đức suy thoái, xuống cấp, thì đó mới là điều đáng nói.
Trong cuốn “Quy luật muôn đời”, Nhà văn Nôđar Đumbatzê có viết: “Tâm hồn con người nặng gấp trăm lần thể xác. Nó nặng đến nỗi một người không mang nổi”. Trong một xã hội kinh tế thị trường chưa hoàn hảo, các thể chế còn bùng nhùng, dường như con người không mang nỗi trái tim mình. Khi mà niềm tin với người bên cạnh chưa đủ, khi mà ra đường phải cảnh giác của cả lòng tốt thì việc họ  hướng đến nhờ cộng lực âm phù của thần thánh là điều dễ hiểu.
Đặt vấn đề chỉnh đốn đức tin, chỉnh đốn sự mê muội bằng các giải pháp hành chính đôi khi chỉ là tình thế và ấu trĩ, cái căn cốt là giáo dục một văn hóa thực hành đức tin lành mạnh. Chừng nào con người đến với thần phật không phải chăm chắm cầu phù hộ, nương nhờ sự bảo trợ của phật chúa thành thần mà đến chùa là để chiêm bái phật thánh thần, đến nhà thờ để thể hiện đức tin chân thành, đến nơi thờ tự để tìm chút thư thái từ chốn trang nghiêm thì chừng đó, đức tin mới phương trưởng, đạo nghiệp mới cao dày, việc hành lễ mới được coi là lành mạnh.
Người Việt hôm nay thực tế hơn nhiều so với các thế hệ cha ông trước đây không sống trong điều kiện kinh tế thị trường. Đi lễ cầu may, cầu lộc, cầu duyên vẫn là đi lễ, nhưng làm ăn theo khoa học, theo văn minh, tiến bộ của thế giới vẫn là xu thế chính.
Dù nói gì thì nói, một đời sống phát triển lành mạnh, con người xã hội đó phải tìm đến và duy trì cả hai: tín ngưỡng tôn giáo và khoa học. Không có tín ngưỡng con người sẽ sống cuộc sống trần trụi hoang liêu, nặng nghiệp tham sân si, và không biết kính sợ; không được soi chiếu bởi ánh sáng khoa học con người sẽ mù mờ và chết chìm trong mớ hỗ lốn các kinh nghiệm cũng như khó thoát ra các tín điều bảo thủ của mình.
Mà thực ra khoa học, hay tôn giáo thì không tự nhiên mà có mà là những thứ con người sáng tạo nên. Oái ăm ở chỗ, con người lại làm nô lệ, lụy thuộc một cách mù quáng vào chúng, bởi vậy điều cần thiết là phải tỉnh táo với cả hai: khoa học xơ cứng, vụ lợi và đức tin tôn giáo mù quáng, trục lợi.
( Nguồn: VHNA)