Thứ Hai, 2 tháng 1, 2017

BẠN BIẾT GÌ VỀ HÀ NỘI 36 PHỐ PHƯỜNG…

Nguồn: by Ngô Minh/ quà tặng xứ mưa

                                                Rủ nhau chơi khắp Long Thành
                                                Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai…
ha-noi-xuaPhố cổ Hà Nội xưa
36 phố phường Hà Nội…, câu thơ dân gian ấy ai cũng thuộc. Nhưng 36 phố  phường là những phố nào và có tự bao giờ ? Đó là điều không phải ai cũng biết . Từ ngày vua Lý Công Uẩn xuống chiếu dời đô về Đại La ( 1010) , đặt tên Kinh đô là Thăng Long ( Rồng bay), thủ đô chia làm  2 khu vực: Khu vua ở và thiết triều gọi là Thăng Long Thành và khu dân cư nơi làm ăn buôn bán của mọi tầng lớp sĩ nông công thương. Dân  quê gọi là phố Kẻ Chợ , vì mỗi phố sản xuất và bán một thứ sản vật nổi tiếng. Khu dân cư này cũng có thành bao quanh , gọi là Thăng Long ngoại thành. Cả hai khu vực này được tổ chức thành một đơn vị hành chánh, gọi là phủ Ứng Thiên. Đến năm 1014 đổi là Nam Kinh. Sang đời Trần đổi là Trung Kinh , có 61 phường. Đến đời Lê , mới tổ chức lại thành 36 phường . Đến đời Hồ gọi là Đông Đô. Đến thời nhà Lê, sau chiến thắng quân Minh, đổi thành Đông Kinh. Đến năm 1831, thời Minh  Mạng , cái tên HÀ Nội mới ra đời , gồm 4 phủ : Hòa Đức ( tức Thăng Long cũ), Thường Tín, Ứng Hòa, Lý Nhân. Phủ Hòa Đức, Thăng Long cũ ấy chính là 36 phố phường xưa. 36 phường thời Lê ấy , lại chia thành 3 loại theo nghề nghiệp làm ăn : Thứ nhất là các phường làm nghề nông , vẫn giữ nguyên tên gọi đến ngay nay như Quảng Bá, Nghi Tàm, Tây Hồ, Xã Đàn, Thịnh Quang…, rồi các phường buôn bán,  phường thợ thủ công. Với quá trình đô thị hóa, nhiều phường  nông nghiệp biến thành phương buôn bán, như phường Giang Khẩu ( HÀ Khẩu)  ở ngay cửa sông Tô Lịch là một nơi nhộn nhịp trên bến dưới thuyền, thuyền bè thương nhân trong và ngoài nước vào buôn bán, làm ăn. Cạnh đó còn các phường buôn bán, thủ công mới hình thành nên nhiều phố Kẻ Chợ như hàng hàng The ( tơ , lụa, the ), hàng Vôi , hàng Giấy,v.v.. Đến thế kỷ thứ 18, thương nhân Hà Lan, Anh , Bồ Đào Nha , nhiều nhất  là Hoa Kiều đã đến Hà Nội mở các tiệm cao lâu, các cửa hàng dịch vụ, buôn bán. Từ đó tạo hình thành 36 phố phường sầm uất . Có bài ca dao nổi  tiếng, giúp mọi người nhớ tên 36 phố phương xưa . Xin chép nguyên văn phục vụ bạn đọc :
Rủ nhau chơi khắp Long Thành
                                                Ba mươi sau phố rành rành chẳng sai
                                                Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai
                                 Hà ng Buồm ,Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay
                                                Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày
                                     Hàng Lờ ,Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn
                                                Phố Mới, Phúc Kiến , Hàng Than
                                    Hàng Mã, Hàn Mắn, Hàng Ngang, Hàng Đồng
                                                Hàng Muối, Hàng Nón, CẦu Đông
                                     Hàng Buồn, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng BÈ
                                                Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre
                   Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The ( tức the, lụa ) , Hàng Gà
                                                Quanh đi đến phố Hàng Da
                                                Trải xem phừơng phố thật là cũng xinh
                                                 Phồn hoa thứ nhất Long Thành
                                                Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ
                                                Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ
                                                Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền.
Có lẽ đến thời gian giữa thế kỷ XVIII, bài ca dao mới ra đời , vì trong bài có đến Phố Mới, Phúc Kiến là những phố do người Phúc Kiến, Quảng Đông ( Trung Quốc ) sang buôn bán , rồi định cư  ( đoạn phố Hàng Buồn, Hàng Ngang bây giờ) .Nhưng dù xưa như thế, nhưng đến khu phố cổ HÀ Nội  bây gờ, theo bài ca dao, chúng ta cũng có thể đi đếm các tên phố đến ba thế kỷ rồi vẫn không thay đổi…
Du lịch  Ba mươi sau phố phường Hà Nội, tức là du lịch  phố cổ HÀ Nội  . Đó là một tam giác phố cổ , cạnh thứ nhất giáp với Sông Hồng, từ Hàng Đậu đến Hàm Tử Quan. Canh thứ hai từ Hàng Đậu qua Phùng Hưng đến Cửa Nam. Cạnh thứ ba chạy từ Cửa Nam qua  qua Hàng Bông, Hàng Gai, CẦu Gỗ, Lò Sủ đến Hàm Tử Quan. Khu 36 phố phường này tên phố gắn liền với tên mặt hàng sản xuất và buôn bán từ xưa đến nay. Ở khu này, những ngôi đình thờ tổ sư các nghề vẫn còn . Đa số nhà cổ lợp ngói âm dương, hình ống, với kiểu kiến trúc 3 gian hai chái, hay 5 gian, phát triển theo chiều dọc, sâu hun hút. Đây là Khu phố cổ nổi tiếng, đậm nét văn hóa HÀ Nội xưa đang được đầu tư ,nghiên cứu để  bảo tồn ,gìn giữ.
Ngày nay, vào thời  đổi mới, hội nhập , HÀ Nội đã rộng gấp nhiều lần xưa kia, không ai nhớ hết phố  mới HÀ Nội bây giờ, nhưng 36 phố phường xưa thì không thể quên được. Vì đó là văn hóa HÀ Nội – Thăng Long, các gốc của văn hóa Việt Nam.

                                    HÀ NỘI 36 PHỐ PHƯỜNG…
                                                                                    Nguyễn Thi Minh Tâm
                                                Rủ nhau chơi khắp Long Thành
                                                Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai…
36 phố phường Hà Nội…, câu thơ dân gian ấy ai cũng thuộc. Nhưng 36 phố  phường là những phố nào và có tự bao giờ ? Đó là điều không phải ai cũng biết . Từ ngày vua Lý Công Uẩn xuống chiếu dời đô về Đại La ( 1010) , đặt tên Kinh đô là Thăng Long ( Rồng bay), thủ đô chia làm  2 khu vực: Khu vua ở và thiết triều gọi là Thăng Long Thành và khu dân cư nơi làm ăn buôn bán của mọi tầng lớp sĩ nông công thương. Dân  quê gọi là phố Kẻ Chợ , vì mỗi phố sản xuất và bán một thứ sản vật nổi tiếng. Khu dân cư này cũng có thành bao quanh , gọi là Thăng Long ngoại thành. Cả hai khu vực này được tổ chức thành một đơn vị hành chánh, gọi là phủ Ứng Thiên. Đến năm 1014 đổi là Nam Kinh. Sang đời Trần đổi là Trung Kinh , có 61 phường. Đến đời Lê , mới tổ chức lại thành 36 phường . Đến đời Hồ gọi là Đông Đô. Đến thời nhà Lê, sau chiến thắng quân Minh, đổi thành Đông Kinh. Đến năm 1831, thời Minh  Mạng , cái tên HÀ Nội mới ra đời , gồm 4 phủ : Hòa Đức ( tức Thăng Long cũ), Thường Tín, Ứng Hòa, Lý Nhân. Phủ Hòa Đức, Thăng Long cũ ấy chính là 36 phố phường xưa. 36 phường thời Lê ấy , lại chia thành 3 loại theo nghề nghiệp làm ăn : Thứ nhất là các phường làm nghề nông , vẫn giữ nguyên tên gọi đến ngay nay như Quảng Bá, Nghi Tàm, Tây Hồ, Xã Đàn, Thịnh Quang…, rồi các phường buôn bán,  phường thợ thủ công. Với quá trình đô thị hóa, nhiều phường  nông nghiệp biến thành phương buôn bán, như phường Giang Khẩu ( HÀ Khẩu)  ở ngay cửa sông Tô Lịch là một nơi nhộn nhịp trên bến dưới thuyền, thuyền bè thương nhân trong và ngoài nước vào buôn bán, làm ăn. Cạnh đó còn các phường buôn bán, thủ công mới hình thành nên nhiều phố Kẻ Chợ như hàng hàng The ( tơ , lụa, the ), hàng Vôi , hàng Giấy,v.v.. Đến thế kỷ thứ 18, thương nhân Hà Lan, Anh , Bồ Đào Nha , nhiều nhất  là Hoa Kiều đã đến Hà Nội mở các tiệm cao lâu, các cửa hàng dịch vụ, buôn bán. Từ đó tạo hình thành 36 phố phường sầm uất . Có bài ca dao nổi  tiếng, giúp mọi người nhớ tên 36 phố phương xưa . Xin chép nguyên văn phục vụ bạn đọc :
Rủ nhau chơi khắp Long Thành
                                                Ba mươi sau phố rành rành chẳng sai
                                                Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai
                                                Hàng Buồm ,Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay
                                                Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày
                                                Hàng Lờ ,Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn
                                                Phố Mới, Phúc Kiến , Hàng Than
                                                Hàng Mã, Hàn Mắn, Hàng Ngang, Hàng Đồng
                                                Hàng Muối, Hàng Nón, CẦu Đông
                                                Hàng Buồn, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng BÈ
                                                Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre
                                                Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The ( tức the, lụa ) , Hàng Gà
                                                Quanh đi đến phố Hàng Da
                                                Trải xem phừơng phố thật là cũng xinh
                                                 Phồn hoa thứ nhất Long Thành
                                                Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ
                                                Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ
                                                Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền.
Có lẽ đến thời gian giữa thế kỷ XVIII, bài ca dao mới ra đời , vì trong bài có đến Phố Mới, Phúc Kiến là những phố do người Phúc Kiến, Quảng Đông ( Trung Quốc ) sang buôn bán , rồi định cư  ( đoạn phố Hàng Buồn, Hàng Ngang bây giờ) .Nhưng dù xưa như thế, nhưng đến khu phố cổ HÀ Nội  bây gờ, theo bài ca dao, chúng ta cũng có thể đi đếm các tên phố đến ba thế kỷ rồi vẫn không thay đổi…
Du lịch  Ba mươi sau phố phường Hà Nội, tức là du lịch  phố cổ HÀ Nội  . Đó là một tam giác phố cổ , cạnh thứ nhất giáp với Sông Hồng, từ Hàng Đậu đến Hàm Tử Quan. Canh thứ hai từ Hàng Đậu qua Phùng Hưng đến Cửa Nam. Cạnh thứ ba chạy từ Cửa Nam qua  qua Hàng Bông, Hàng Gai, CẦu Gỗ, Lò Sủ đến Hàm Tử Quan. Khu 36 phố phường này tên phố gắn liền với tên mặt hàng sản xuất và buôn bán từ xưa đến nay. Ở khu này, những ngôi đình thờ tổ sư các nghề vẫn còn . Đa số nhà cổ lợp ngói âm dương, hình ống, với kiểu kiến trúc 3 gian hai chái, hay 5 gian, phát triển theo chiều dọc, sâu hun hút. Đây là Khu phố cổ nổi tiếng, đậm nét văn hóa HÀ Nội xưa đang được đầu tư ,nghiên cứu để  bảo tồn ,gìn giữ.
Ngày nay, vào thời  đổi mới, hội nhập , HÀ Nội đã rộng gấp nhiều lần xưa kia, không ai nhớ hết phố  mới HÀ Nội bây giờ, nhưng 36 phố phường xưa thì không thể quên được. Vì đó là văn hóa HÀ Nội – Thăng Long, các gốc của văn hóa Việt Nam.

SUY NGẪM VỀ HÀNH VI ỨNG XỬ “ CHEN LẤN” CỦA MỘT SỐ NGƯỜI TRONG CỘNG ĐỒNG

 Người ta sẵn sàng vượt lên hè đường để đi. Xe chiếc quay ngang, chiếc quay dọc tìm đường thoát tạo nên sự hỗn độn, rối loạn giao thông. Mặc dù trừ trường hợp đặc biệt thì cuối cùng thoát ra cái mối bòng bong ấy chỉ cần thời gian mươi phút. Trong trường hợp trật tự có thể sớm hơn vài phút.
 Đáng tiếc rằng, hành vi chèn lấn của người Việt không chỉ có trong giao thông, cả trong các khu vực xã hội khác. Xếp hàng đặt tích kê, đặt phiếu khám bệnh, cũng Chèn lấn. Người ta sẵn sàng phong bì để được khám trước, để bác sĩ, y ta điều dưỡng quan tâm đến ta hơn đối với bệnh nhân khác. Cho dù khám chữa bệnh đó là nhiệm vụ của y- bác sĩ.
Trong giáo dục có không? Hiện tượng xếp hàng chen lấn nộp hồ sơ cho con vào trường điểm cũng không hiếm. Thậm chi phong bì để con được vào trường điểm, cho con có điểm cao hơn điểm bạn nó…….Đấy cũng là hiện tượng chèn lấn.
Nếu để ý ta còn thấy chèn lấn xuất hiện trong cả các phong trào, hội thi. Người ta sẵn sàng phong bao cho giám khảo để được giải cao; Phong bao để được in tác phẩm, phong bao để được thăng quan tiến chức.
Tất cả các hiện tượng đó, khái quát lại tôi gọi đó là hành vi chen lấn.
Hệ lụy là người ta tiêu dùng đồ giả, những giá trị đích thực có khi bị vùi lấp, nguy hiểm hơn làm tha hóa con người.
Nếu đó chỉ là hiện tượng rời rạc, cũng đáng lo, nhưng nếu là hiện tượng phổ biến thì đó là quốc họa. Vì đích thị đó là một xã hội vô tổ chức, thiếu kỷ luật, thiếu văn minh.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này: sự yếu kém của hệ thống dịch vụ, thói quen, tính ích kỷ của con ngườI và sự yếu kém trong tổ chức quản lý xã hội…..còn có nguyên nhân khác, gián tiếp nhưng vô cùng quan trọng đó là lỗi hệ thống.
Cho nên để giải quyết bài toán khó này, không chỉ là biện pháp giáo dục ý thức, còn là xây dựng , hoàn thiện hệ thống dịch vụ trong đó điều quan trọng là có chính sách để đa dạng hóa các thành phần kinh tế trong hệ thống dịch vụ. Lấy quy luật cạnh tranh theo khung luật để cái tốt được nảy sinh phục vụ tốt hơn cho con người. Và điều quan trọng nữa là tính nghiêm ngặt của luật pháp và hành lang thông thoáng cho phản biện xã hội.
Có như vậy, mới kiến tạo được sự công bằng, kỷ cương , đạo đức, văn minh tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của xã hội.
31 tháng 12 năm 2016
LikeShow more reactions

Thư cho người bạn trẻ: Giấc mơ ngày mới


Nguồn: Tuấn Khanh Blog
Nàm 2017 gõ cửa nhà tôi. Gỡ tờ lịch cuối cùng xuống như khép lại căn phòng thời gian đã hết, tôi nhìn thấy ba trăm sáu lăm ngày mới, trắng tinh xếp hàng dài, im lặng nhìn mình. Và như mọi năm, tôi lại tự hỏi với điều rất cũ “những gì sẽ đến, ngày mai, trên đất nước này?”.
Câu hỏi ấy, mỗi năm, tôi – và có lẽ là còn nhiều người khác nữa – vẫn tự hỏi như vậy. Những niềm hy vọng thấp thỏm về ngày mai tốt đẹp hơn trên quê hương luôn âm ỉ trong suy nghĩ. Những ngày mai vô định như nhà thơ Antonio Machado (1875-1939) khi ngồi ở biên giới nước Pháp, từng chiều nhìn qua hàng rào kẽm gai và nghĩ về quê hương Tây Ban Nha của mình. Machado đã qua đời trong niềm hy vọng. Và chúng ta, đôi khi giật mình, vì từng năm như vậy cứ chậm chập trôi qua, khi nhìn lại thì đã gần nửa thế kỷ, gần cạn một đời người, cũng với niềm hy vọng đó.
Mọi lời chúc và hy vọng cho năm mới vẫn như vậy. Tràn ngập trên facebook và điện thoại của tôi là những tin nhắn mừng năm mới. Năm thì mới nhưng nội dung thì không mới: vẫn là hạnh phúc, thịnh vượng…  Con người ngàn đời luôn khắc khoải mang giấc mơ về ấm no và bình yên. Nhưng hy vọng đó cũng là một loại ảo ảnh đáng sợ, nó lôi dắt con người chạy mệt nhoài về phía trước.
Ở các quốc gia độc tài, khái niệm hạnh phúc và bình yên được dùng như một loại ecstasy ảo giác toàn dân. Các nhà lãnh đạo quen lối mị dân vẫn hàng ngày cất lên những bài hát ru về hạnh phúc và bình yên ấy để mê mị đám đông, để họ tiện tay đục khoét đất nước và đặt ra những luật lệ trói buộc con người, để bảo toàn sự thống trị thô bỉ của họ.
Tôi và bạn, chúng ta may mắn sinh ra trong lòng một dân tộc truyền đời dạy cho nhau về yêu thương, về chia sẻ. Chúng ta được học rằng người Việt sẽ vượt qua mọi thứ khi đoàn kết cùng nhau, cũng như thề chết để gìn giữ quê hương và giá trị của tổ tiên để lại.
Nhưng rồi tôi và bạn chứng kiến rằng dân tộc này khi đã thống nhất địa lý trong thời hiện đại, bị áp đặt lòng căm thù với chính anh em của mình. Chúng ta chứng kiến rằng có một lớp người của giai cấp thống trị đang chia chác nhau tài nguyên của đất nước này, phó mặc nhân dân và tương lai vào nợ nần và cùng cực.
Chúng ta cũng sửng sốt khi nhận ra rằng nước Việt bị những người cầm quyền nhân danh, tuyên bố đoàn kết với kẻ thù, xóa bỏ lịch sử hôm qua đầy máu của các cuộc xâm lược từ phía Bắc, cũng như lịch sử hôm nay biển và xác ngư dân là những câu chuyện đang bị nhấn chìm. Dân tộc chúng ta với Trần Bình Trọng, như Nguyễn Trung Trực, như Nguyễn Thái Học…  đã thề chết cho quê hương mình, nhưng hôm nay, thì một câu nói của chân thành về bọn ngoại xâm cũng có thể đổi lại bằng đày đọa và bất an.
Những ngày tháng hôm qua như vậy đó, liệu chúng ta có nên mang một ước nguyện và hy vọng cho ngày mới rằng mọi thứ cần phải được đổi thay? Tôi đang mơ cho đất nước này và dân tộc mình trước những ngày như vậy, còn bạn?
Trong một chuyến đi với xe ôm Grab, tôi nghe người bạn trẻ kể rằng anh cũng có facebook, nhưng trước đây chỉ dám vào nghe, nhìn, đọc. Bấm một dấu like hay bình luận, anh cũng không dám. Anh thú nhận rằng anh rất sợ. Nhưng rồi gần đây, khi đọc về những câu chuyện về dân lành bị đánh chết trong đồn hỏi cung, do chính báo nhà nước đưa tin, khiến anh cũng đã không dằn được và góp lời bình luận.
Nửa thế kỷ trước, chúng ta đầy sợ hãi, nhưng hôm nay chúng ta có thêm những điều mới mẻ: đứng về phía lẽ phải và đám đông đang ngóng về tương lai, con người đã biết cách vượt qua sợ hãi. Tôi tin trong năm mới này, người thanh niên chạy xe ôm đó chắc cũng mơ một giấc mơ giống tôi, dù đó là một giấc mơ thầm lặng.
Một cô gái nhỏ nhiều năm sống ở Canada, về thăm nhà, kể rằng điều cô làm có ý nghĩa nhất, là đi mua cho ba một chiếc smartphone mới, lập facebook và hướng dẫn cho ba mình vào xem tin tức tự do, chỉ các trang cần theo dõi nhưng không quên dặn ba rằng nhớ đừng bấm nút gì hay bình luận lời nào. Nhưng tôi không tin rằng ông chỉ im lặng, bởi ngày thường, ông là một trí thức và luôn đau đáu về tương lai đất nước mình. Rồi chắc chắn rằng, ông cũng đang mơ một giấc mơ giống như tôi.
Chủ nghĩa Phát xít và Cộng sản Châu Âu từng có sách giáo khoa về cai trị giống nhau, rằng cứ nói dối, mãi rồi cũng sẽ thành một loại sự thật. Những con người sống quen im lặng, vì sợ hãi hay vì tự nhủ rằng nói ra chẳng để làm gì – nhưng đừng bao giờ quên nuôi hy vọng và giấc mơ.  Vì đó chính là khắc tinh của bài học cai trị. Một người nuôi giấc mơ thì nhỏ, nhưng một ngàn người nuôi giấc mơ thì lớn, và khi một dân tộc nuôi giấc mơ thì đó là sức mạnh thay đổi vận mệnh cho tất cả.
Truyền thuyết của nhân loại vẫn còn đó câu chuyện về đoàn người nô lệ và không tương lai, nuôi giấc mơ của mình nên đã cùng nhà tiên tri Moses bước qua dòng sông dữ và về đến vùng đất hứa. Và cùng với ước mơ và hy vọng, mà dân tộc Việt Nam đã từng vượt qua ngàn năm đô hộ, trăm năm thực dân.
Tôi nghe thấy năm mới gõ cửa. Thời khắc của đổi thay như đang đến, bạn có nghe không? Tôi mời bạn cùng tôi ước mơ và hy vọng. Và nếu bạn vẫn còn sợ hãi, thì cứ tạm giữ kín mọi thứ trong trái tim mình, nhưng xin đừng bao giờ vùi chôn, hay lãng quên về một ngày sẽ đến.

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2016

EM CÓ VỀ

Bài viết nhân 50 năm truyền thống trường ĐHSPKT-HY
Em có về không? Đã cuối năm rồi đấy.
Hưng Yên đông, hoa sữa trắng trên cành
Ven sân trường, bàng đang mùa trút lá
Lắc rắc sợi mưa, xào xạc lá bay.
Ta tìm lại những ngày cắp sách
Giảng đường xưa, hàng ghế mình ngồi
Những đêm trắng cùng bạn bè viết vẽ
Ngày đi ca rộn rã máy khoan.
Bạn bè ta buổi ấy cơ hàn
Manh áo mỏng giữa trời đông rét giá
Nồi quân dụng cơm đầy ngô độn
Bữa sắn, bữa khoai, mì sợi qua ngày.
Em có về không? Trường của chúng mình
Đâu còn nữa nhà tranh vách trát.
Đã bừng lên rạng ngời nét mặt
Giảng đường nay phòng ốc thênh thang
Bàn ghế mới và bảng đen to rộng
Máy chiếu hình thay bản vẽ Ao..
Thầy Cô mình tóc đã bạc phơ.
Mắt vẫn sáng, bao dung gần gũi
Người về hưu, người còn ở lại
Nét phấn ngay trên bảng mỗi ngày.
Bạn bè ta đứa còn, đứa mất
Đứa nghèo xơ, đứa giám đốc công ty
Lòng vẫn vậy nhớ thời cắp sách,
Mái trường xưa và hàng ghế ta ngồi.
Hưng Yên tháng 12 năm 2016

Không có tết nơi này.

Ngô Nguyệt Hữu
Sáu tuần nữa là Tết, Bình Định vẫn ngập trong lũ. Từ thành phố Quy Nhơn tỏa đi các huyện, đều bắt gặp những con đường đầy nước. Thị xã An Nhơn, có đoạn nước lên đến ngực người lớn.
Hôm Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vào thị sát lũ, địa phương không thể đưa Phó Thủ tướng vào điểm ngập nặng để thăm dân. Nhiều khu vực ngoài tầm kiểm soát, thủy điện vẫn báo tin xả lũ.
Năm cơn lũ chồng lũ kéo dài trong hơn tháng qua đã khiến Bình Định không còn sinh khí, không còn hoa màu, mai Tết. Những chậu cúc đã vào chậu chờ tháng Chạp rệu rã, úng, rũ lá.
Chín giờ sáng, nhà trường cho học sinh về sớm vì lũ. Cậu học trò tuổi 11 đã vĩnh viễn không được gặp mặt cha mẹ nữa.
17 giờ chiều, tan ca. Cô công nhân tuổi 23 đã không còn được ôm con thơ vào lòng nữa. Con của cô vừa tròn hai tuổi, chồng được tin báo lặng lẽ đưa thi thể vợ về.
Rạng sáng, người đàn ông mưu sinh bằng nghề mò cua nuôi gia đình vùi mình trong lũ..
Những phận người lặng lẽ rời bỏ cõi tạm này theo cái cách mà chúng ta quen miệng gọi là hậu quả của lũ lụt.
Năm nay, tôi đi công tác nhiều hơn so với mọi năm, những vùng lũ, những nơi hạn. Tôi thật sự hoảng sợ vì đã chứng kiến sự bất thường của thiên nhiên, thứ mà bao nhiêu năm chính chúng ta tiêu pha phung phí, từ rừng cho đến nguồn nước. Câu chuyện này sẽ không có hồi kết, khi mà lãnh đạo Bộ Công thương vẫn đang quyết liệt làm thép, thứ đang khiến Bắc Kinh đau đầu vì hệ lụy môi trường.
Trên rừng đầy có thủy điện, dưới biển đặc nhà máy thép, đồng bằng chen chúc nhiệt điện. Bức tranh về thảm họa không thể nào rõ hơn được nữa. Tiếc rằng cho đến giờ, vẫn quá ít người lên tiếng về nguy cơ ấy. Dẫu rằng tác động ngay trước mắt đấy thôi.
Nhưng đó là chuyện khác còn trong status này, chỉ mong các anh chị nghĩ về Bình Định với tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách. Nhất là khi còn mấy mươi hôm nữa, Tết đã về.

Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2016

Hai bài thuốc quý khiến người Dao phải đặt ra một quy định là con trai dưới 16 tuổi không được sử dụng, lý do được đưa ra là bà con không muốn cánh thanh niên sung quá mà gây ra hậu quả.

                                                                           Nguôn: Phạm Viết Đào/ Blog

Cánh mày râu người Dao Đỏ ở vùng Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, luôn tự hào dẻo dai, đặc biệt trong khoản làm hài lòng chị em. Cánh nam giới nơi đây có may mắn được sống trên kho thảo dược, trong đó có những vị thuốc vô cùng quý khiến nhiều người phải thèm khát.

Thần rừng đã ban cho phụ nữ bài thuốc hỗ trợ khi sinh đẻ, cánh nam giới cũng có bài thuốc quý dắt lưng, gồm hai thảo dược quý hiếm, gồm “cứu nhiêu lỵ” (dịch tiếng nghĩa là sức chín trâu) và “cù boong nậu” (dịch nghĩa là cứng như dùi đục).
Bài thuốc quý khiến người Dao phải đặt ra một quy định là con trai dưới 16 tuổi không được sử dụng. Lý do được đưa ra là bà con không muốn cánh thanh niên sung quá mà gây ra hậu quả. Vị thuốc quý mọc tít trên những triền núi đá, sau cả trăm năm mới được khai thác. Chẳng thế mà ai may mắn kiếm được vị thuốc này là được bà xã thưởng lớn.
Sức chín trâu
Nhớ lại lúc gặp ông Bùi Văn Ngoạn, Trạm trưởng Trạm Y tế xã Nậm Búng, hỏi về tình hình sức khỏe của nhân dân, ông Ngoạn cười tủm: “Anh cứ vào bản Dao mà tìm hiểu. Tại sao các bậc cao niên ở nơi này lại có sức vóc hơn người? Tại sao thanh niên 15-16 đã sùng sục đi tìm vợ? Đó là do họ được sử dụng những cây thuốc quý. Bản thân anh em miền xuôi công tác tại xã cũng được thơm lây đấy”.


thuoc

Ông Ân bên cây Kiếu nhiêu lỵ mà ông di thực trồng ở vườn nhà


Ở bản Nậm Búng có gia đình ông Triệu Tài Ân được coi là người biết nhiều bài thuốc hay nhất bản. Ông Ân đang ngồi bó ngối bên bếp lửa. Những ngày đầu đông, công việc đồng áng đã xong nên bà con người Dao có chút thời gian nghỉ ngơi.
Thứ này mà đã khô chỉ còn cách ngâm cả đoạn, chứ việc chặt đứt là rất khó. Do vậy, mỗi khi lấy ở rừng về, tôi phải chặt nhỏ thành từng khúc khi nó còn tươi”. Củ “Kiếu nhiêu lỵ” dịch ra tiếng phổ thông nghĩa là sức chín trâu lại là thân dây leo, nên nó mềm mại hơn. Do vậy, một loại cứng, một loại mềm kết hợp thành bài thuốc toàn dương đại bổ rất tốt cho đàn ông bị yếu sinh lý.
Ông Ân đã có cháu nội, cháu ngoại đề huề nhưng nom ông còn khỏe lắm. Nước da bánh mật nhuộm màu nắng gió. Dáng người dong dỏng nhưng ánh mắt sắc lẹm. Giọng nói sang sảng. Ông vẫn có thể lên rừng đi kiếm thuốc và đi săn cả tuần trời mà không biết mệt.
Có khách quý đến, thay vì pha trà, ông mang thứ nước thuốc có màu cánh gián ra mời. “Người Dao ít uống trà lắm. Nước lá, nước rễ cây uống quanh năm. Thứ thuốc giúp người ta bình tâm, an thần, giải độc rất tốt. Chẳng thế mà ở cái bản này, từ xưa đến nay hiếm người mắc bệnh nan y. Đặc biệt là cánh đã lên lão như chúng tôi tuổi cao nhưng lại “già” không đều”, ông Ân chia sẻ.
Loài thảo dược quý này sống trên triền núi cao thuộc dãy Hoàng Liên Sơn, thuở trước, ông Ân chỉ cần vào rừng nửa buổi là kiếm được cả gùi to. Nay đi một ngày, may lắm mới kiếm được một cây. Thứ cây thân dây leo này thường mọc ở nơi rừng rậm treo leo bên vách đá. Rễ của chúng cũng cắm sâu vào các khe đá mà hút lấy dưỡng chất và khí trời.
Trong góc nhà của ông An còn giữ lại được 2 đoạn rễ cây. Loại có màu đỏ, rắn như dùi đục là cây “cù boong nậu”. Loại này phải dùng rìu của đám thợ sơn tràng khi xưa mới có thể chặt nổi.
Ngày đầu nghe tin bài thuốc độc đáo của người Dao, nhiều người sững sờ không tin về công dụng của nó. Họ tìm đến nhà ông An, ông không giải thích nhiều mà cho họ vài đoạn rễ cây về ngâm rượu dùng thử và chưa lấy tiền. Ông khẳng định như đinh đóng cột: “Bao giờ thuốc có công dụng, các anh đến trả công tôi đi tìm thuốc cũng chưa muộn”. Và từ nhiều năm bốc thuốc giúp người đến giờ, ông chưa phải cho ai thuốc không bao giờ. Họ đều quay lại hậu tạ ông vì công dụng quá hiệu nghiệm của bài thuốc quý.
Cấm trẻ dưới 16 tuổi
Bao đời sống cùng rừng sâu, núi thẳm nên bà con người Dao cũng đặt ra những quy định riêng về ứng xử với rừng. Họ không bao giờ khai thác rừng một cách ồ ạt mà chỉ xin rừng một phần.


thuoc 2

Củ Kiếu nhiêu lỵ, dịch nghĩa là 'Sức mạnh bằng 9 con trâu'


Dù biết cây “Kiếu nhiêu lỵ” là bài thuốc tốt, họ cũng chỉ lấy đủ dùng là thôi, chứ không ai gom hàng một cách ồ ạt. Thuốc quý, công dụng tức thì, nhưng cánh trai tráng cũng được các cụ truyền lại cách ứng xử với thuốc. Trong đó có một quy định bất di bất dịch là ai dưới 16 tuổi thì không được dùng bài thuốc này.
Lý do các cụ đưa ra là đang ở độ tuổi còn non tơ, đám trai ngựa non háu đá, dùng thuốc vào tựa như hổ mọc thêm cánh, chúng sẽ hung hãn hơn và dễ làm những điều trái với lương tâm đạo đức.
Anh Triệu Tài Pây năm nay đã ngoài hai mươi tuổi cũng được các cụ dạy rất kĩ về cách sử dụng thuốc. “Chỉ có những người ở nơi khác, bất chấp quy định, cố sử dụng thuốc quý khi chưa đủ tuổi đã mang họa vào thân. Người Dao hào phóng thật nhưng ai mà đến xin thuốc khi chưa đủ tuổi, các cụ không bao giờ chỉ cho”, anh Pây tâm sự. Bản thân anh Pây cũng chưa dám sử dụng loại tiên dược này. Lý do mà anh đưa ra là cái gì cũng cần phải thuận theo tự nhiên. Khi nào sức khỏe đi xuống, ta cần “xốc” lại thì mới dùng đến thuốc.
Mang tiếng là người chuyên lấy thuốc, nhưng trong nhà ông Ân không hề có cây thuốc nào. Như đoán được thắc mắc của vị khách lạ, ông Ân giãi bày: “Kiếm được cây nào là có người đến lấy cả rồi. Đặc biệt là mấy ông doanh nghiệp cỡ bự ở thị xã Nghĩa Lộ, TP. Yên Bái tham lam lắm, đặt mua cây “Kiếu nhiêu lỵ” và “Cù boong nậu” trước cả năm trời. Đắt mấy họ cũng mua. Ngày nào họ cũng gọi điện cứ như mình mắc nợ họ”.


thuoc 3

Đại gia ở Yên Bái rất chuộng thảo dược Kiếu nhiêy lỵ và Cù boong nậu của người Dao Đỏ đất Văn Chấn


Hóa ra thứ cây làm cho cánh nam giới có thể vênh vênh tự đắc đó từ nhiều năm qua bị săn lùng ráo riết, nên số lượng cứ giảm dần. “Nhiều lần đi cả ngày trong rừng mà không kiếm được cây nào”, ông Ân thở dài.
Ông Ân năm nay đã ngoài 70 tuổi, nom ông còn gân guốc,tráng kiện lắm. Bản thân ông không dám dùng bài thuốc này vì lỡ uống vào là phải rời bản. “Giờ ở cái tuổi này, mình phải làm gương cho con cháu”, ông Ân vừa nói vừa phân bua.
Theo mô tả của ông Ân, giống cây này mọc trên núi đá. Rễ của chúng cũng ăn sâu vào khe đá để hút dưỡng chất. Cây càng lâu năm thì càng quý. Xưa người Dao đi thấy thuốc, không bao giờ chặt ngang cây hoặc trốc cả rễ. Họ chỉ lấy một phần thân, để lại cây chính để sang vài năm sau cây lại ra thêm. Cái quy tắc sống hài hòa cùng thiên nhiên của người Dao giờ đây đã bị xâm phạm.
Từ khi đường sá đi lại thuận tiện, nhiều người biết đến bài thuốc quý này, nhiều người coi việc đi tìm thuốc là cách kiếm sống. Sau mỗi năm, số cây bị nhổ tận gốc trốc tận rễ đưa ra khỏi rừng nhiều hơn. Bản thân người Dao nhiều lúc muốn tìm bài thuốc này cũng gặp vô cùng gian khó. Họ phải đi xa, sang tận rừng Ngọc Chiến (huyện Mường La, Sơn La) tìm kiếm.
Công ty Cổ phần Dược thảo Fansipan, với sự hỗ trợ của lương y Phạm Văn Thanh, lương y Hoàng Tuyết Minh, đã cùng người Dao Đỏ thu hái bền vững những thảo dược quý này, để chế thành bài thuốc sắc và ngâm rượu, bồi bổ cơ thể, giúp quý ông sung mãn.
Độc giả có thể liên hệ số điện thoại sau để được tư vấn về thảo dược tăng cường sinh lý của người Dao Đỏ: 0915.330535 - 0979.184263 - 04.32151903.
Linh Nhi

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG VỚI CHỦ QUYỀN HOÀNG SA CỦA VIỆT NAM

Nguồn Quà tặng xứ mưa/ Ngô Minh
NGUYỄN VĂN MẠNH-Kỷ niệm 140 năm ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng-Từ lúc cất tiếng khóc chào đời tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông (nay là thôn 5, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, Quảng Nam), đến nay đã tròn 140 năm (1/10/1876 – 1/10/2016); nhưng mỗi lần nhớ đến quyền Chủ tịch nước Cụ Huỳnh Thúc Kháng chúng ta không khỏi xúc động về một con người đã cống hiến trọn đời mình cho dân cho nước.
Bác Hồ và Cụ Huỳnh Thúc Kháng trong Chính phủ đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Ảnh: Internet
Còn nhớ vào đầu thế kỷ XX, Cụ Huỳnh sau khi đỗ Hội nguyên Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1904), lúc chỉ mới 28 tuổi, mặc dù học giỏi đỗ cao, danh tiếng lừng lẫy nhưng đã không ra làm quan với triều đình phong kiến nhà Nguyễn. Trước cảnh đất nước nghèo khổ lầm than dưới ách bọn thực dân đế quốc, Cụ cùng các sĩ phu yêu nước khác phát động phong trào Duy Tân để mở mang dân trí, tăng cường sức mạnh cho đất nước. Cuộc vận động này xuất phát từ Quảng Nam năm 1905 rồi lan nhanh ra các tỉnh Trung Kỳ và sau đó phát triển đến các tỉnh Nam Kỳ và Bắc Kỳ. Do ảnh hưởng ngày càng lớn của phòng trào, năm 1908 Cụ bị thực dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo. Đến năm 1921 khi ra tù, Cụ về làm chủ bút báo Tiếng Dân và Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ.
Sau Cách mạng tháng Tám, Cụ tham gia Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giữ chức Bộ trưởng bộ Nội vụ, quyền Chủ tịch nước, Chủ tịch hội Liên Việt. Dù ở cương vị nào con người của Cụ cũng luôn toát lên một nhân cách “giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả cuộc đời cụ Huỳnh không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu; cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập…1
Là một người ngay thẳng, chỉ biết nói điều hay lẽ phải, bởi thế ngay trong số đầu ra mắt báo Tiếng Dân ngày 10/8/1927, Cụ Huỳnh từng công khai tuyên bố: “Nếu không có quyền nói tất cả những điều mà mình muốn nói thì ít ra giữ những quyền không nói những điều người ta ép buộc nói”2. Chỉ cần một tuyên ngôn đó cũng đủ để thấy nhân cách con người Huỳnh Thúc Kháng.
Phải nói rằng, bên cạnh những đóng góp trong hoạt động của phong trào Duy Tân, hoạt động dân biểu, hoạt động trên lĩnh vực báo chí, Cụ còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu. Một trong những đóng góp của Cụ đối với đất nước là những bài chuyên luận bàn về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Những bài viết của Cụ được đăng tải trên tờ Tiếng Dân mà Cụ là chủ bút. Đó không phải là những lời tuyên bố sáo rỗng, vô căn cứ, trái lại, Cụ đặc biệt chú ý đến các luận cứ khoa học để chứng minh chủ quyền quần đảo Hoàng Sa của đất nước ta.3
Từ giữa những năm 1938 trở đi, việc tranh chấp quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa) giữa Pháp và Nhật hết sức gay gắt. Tháng 3/1939, Nhật chiếm quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam đặt dưới quyền cai trị của Pháp. Từ ngày 12/7/1938, Tiếng Dân bắt đầu đăng một loạt bài về quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa) như: “Quần đảo Tây Sa (Paracels) với Pháp” (Tiếng Dân, số 1280), “Quần đảo Tây Sa trở thành vấn đề quan trọng” (Tiếng Dân, số 1281), “Việc Paracels (Tây Sa), Pháp chính thức nhận chủ quyền đảo ấy (Tiếng Dân, số 1282). Đặc biệt, Tiếng Dân còn có một bài nghiên cứu, bình luận dài, viết rất công phu và có giá trị: Dấu tích đảo Tây Sa (Paracels) trên lịch sử Việt Nam ta và giá trị bản Phủ Biên Tạp Lục” (Tiếng Dân, số 1284, 23/7/1938) do Sử Bình Tử tức Huỳnh Thúc Kháng viết. Trong bài báo này Cụ đề cập đến việc tranh chấp quần đảo Hoàng Sa đã trở nên nghiêm trọng: “Như trong bài báo Tiếng Dân số trước đã nói, đảo Tây Sa là mấy hòn đảo con con làm nơi trú cho loài chim biển ở ngoài biển khơi, không ai cần để ý đến, mà nhân cuộc Trung Nhật chiến tranh trở nên một vấn đề nghiêm trọng trên trường quốc tế, rõ là một điều không ngờ4. Và Cụ khẳng định: “Theo các báo cáo ta gần đây sưu tập các tài liệu về đảo Tây Sa để chứng minh thì đảo ấy là phần sở hữu của nước Nam ta, vì chính người Nam đã chiếm trước hết và đã kinh dinh các công cuộc ở đảo ấy…”.5
Cụ đã liệt kê các tài liệu phong phú: Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, Đại Nam Nhất Thống Chí cả bản trước và bản của Cao Xuân Dục soạn lại, Triều Chính Yếu Thực Lục của hai triều Gia Long – Minh Mạng, Lịch Triều Hiến Chương của Phan Huy Chú hoặc Cống Hạ Ký Văn của Dương Quốc Dung, Mán Hình Thi Thoại và Đông Hành Thi Thuyết của Lý Văn Thức, Biển Sử Cương Giám của Nguyễn Thông… trong đó đều đề cập đến Hoàng Sa và chủ quyền của nước ta từ thời bấy giờ. Trong số đó Cụ Huỳnh nhấn mạnh giá trị của Phủ Biên Tạp Lục bởi sự khẳng định chuẩn xác các yếu tố hành chính, địa lý, kinh tế, quân sự của một nhà khoa học uyên thâm. Qua bài báo “Dấu tích đảo Tây Sa (Parasels) trong lịch sử Việt Nam ta và giá trị bản Phủ Biên Tạp Lục, trước hết Cụ Huỳnh nhấn mạnh vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa cần phải dựa vào các tài liệu chữ Hán làm minh chứng: “…chúng ta lại phát kiến một điều không ngờ nữa là một mớ sách chữ Hán của tiền nhân ta lâu nay đã bỏ xó, lề hư bìa nát, phần đông nhất là bạn thanh niên, cho đó là một thứ học mượn, thứ chữ chết, không cần đếm xỉa đến, nay nhân vấn đề đảo Tây Sa, trở thành món tài liệu rất quý giá có quan hệ đến công pháp quốc tế không phải là ít”.
Từ đó Cụ dựa vào các tài liệu cổ sử để chứng minh đảo Hoàng Sa thuộc quyền quản lý của nước ta, cụ thể:
1. Trước hết Cụ dựa vào tài liệu Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn cuối đời Lê để viết: “… nơi phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn, làng An Bình gần biển, ngoài biển có nhiều hòn đảo, trong đó có đảo Hoàng Sa dài ước 30 dặm. Rồi kể vật sản: yến sào, chim biển, ốc taive, xà cừ, đồi mồi, hải sâm… Sử chép truyện Chúa Nguyễn có đặt đội Hoàng Sa 70 suất thay phiên ra đảo lấy hải vật, đi ba ngày đêm đến đảo, mỗi năm tháng 3 đi, tháng 8 về; lại có chép sao biên bản của Thuyên Đức Hậu là cai quản đội Hoàng Sa ấy, kể rõ mỗi năm nhặt được thiếc mấy cân, vàng mấy hốt, đồi mồi, yến sào mấy cân, lại có khi nhặt được đồng khí, súng tiền… (những thứ có lẽ là đồ vật của những chiếc tàu chìm đây đó). Đến giá trị nhất là tờ công văn của Quan Chánh Đường quan huyện Văn Xương, phủ Huỳnh Châu (Trung Hoa) gởi sang Chúa Nguyễn ở Thuận Hóa khi hộ tống hai tên trong đội Hoàng Sa bị phiêu bạt sang đây; trong “Thuận Hóa” công văn có chép: “Năm Càn Long thứ 19 (1754, triều Hiến Võ năm thứ 17) tên quân đội Cát Vàng, người làng An Bình, huyện Chương Mỹ, phủ Quảng Ngãi, nước An Nam, ngày tháng 7 đi ra Vạn Lý Trường Sa tìm nhặt các hải vật, tám tên lên bờ tìm nhặt để hai tên lại giữ thuyền, rủi bị trận bão, đứt dây neo, thuyền trôi dạt vào bãi biển Tàu, viên huyện Văn Xương cho thuyền về xứ, chúa truyền Nguyễn Thuận Hóa cai bạ Thức Lượng Hầu làm thư phúc đáp. Đọc đoạn đại lược chép trên, thấy công trước tác của cụ Lê Quý Đôn thật không phụ cái tiếng “tài cao học rộng” và sách Phủ Biên Tạp Lục giá trị đáng quý là dường nào! (Bản này không chỉ kể chuyện trên, nào việc Xiêm La, Chân Lạp… cho đến làng xã, thuế khóa, vật sản, đường thủy, đường lục, cầu trạm, quán xá đều có chép). Trong nước có bản sách quý hóa như vậy mà chỉ có bản chép bằng tay, tam sao thất bản, rồi gác vào xó kín, không đem ấn hành và công bố sách độc, sách dạy; đến ngày nay nhân dịp có việc mới nhắc đến, để mong góp chút ánh sáng nhỏ nhoi truyền đến người đọc. Như thế trách nào dân không ngu. Rõ thẹn với hai chữ “văn hiến” biết bao”.
2. Dựa theo Lịch Triều Hiến Chương của Phan Huy Chú, Cụ viết: “Cống Hạ Ký Văn của cụ Dương Quốc Dung dưới mục Phong Vực có nhắc đến… ngoài phần biển Quảng Ngãi có đảo Hoàng Sa từ cửa biển Sa Kỳ đi hướng đông, ba ngày đêm thì đến nơi, cồn cát nơi đứt nơi nối, vài mươi dăm không sao kể hết, dấu người ít đến”.
3. Cụ dựa vào Mán Hình Thi Thoại và Đông Hành Thi Thuyết của cụ Lý Văn Thức ghi lại trong những chuyến đi Trung Quốc và Lucon (Philippines): Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) cụ đi Phúc Kiến có chép: “Thuyền đi về bến hữu, nơi gọi là “Vạn Lý Thạch Đường” đều là cát vàng (Hoàng Sa) cũng gọi là “Vạn Lý Trường Sa”; Cụ có bài thi có câu: Vạn Lý Trường Sa bí tuyệt hiểm Thất châu cuồng lăng nhạ oan hào. Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) cụ lại đi Lữ Tống (Lucon) đảo Phi Luật Tân hồi đó thuộc Tây Ban Nha. Thuyền từ Quảng Ngãi đi theo hướng đông, bị gió lạc vào vùng Vạn Lý Trường Sa cụ có bài dẫn nói: Một chòm đảo cát nổi lên giữa biển, phía Tây là biển Quảng Ngãi phía Bắc tiếp biển Quảng Đông, Phúc Kiến, phía đông tiếp biển Lữ Tống, phía Nam thì kéo dài… là một nơi tuyệt hiểm có thuyền bè.
4. Tiếp đến Cụ dẫn Đại Nam Nhất Thống Chí cả bản trước và bản của cụ Cao Xuân Dục mới soạn lại và Bản Triều Chính Yếu Thực Lục cả tiền triều và triều Minh Mạng, Bản Biển Sử Cương Giám của Nguyễn Thông để minh chứng: Đảo Tây Sa là phần sở hữu của nước Nam ta, vì chính người Nam đã chiếm trước hết và đã kinh dinh các công cuộc ở đảo ấy…
5. Cuối cùng Cụ kết luận, vấn đề “quốc tịch đảo Tây Sa” này, nếu trên sân khấu quốc tế, nhận chủ quyền sở hữu của những ai chiếm trước và có tài liệu làm chứng hẳn hoi, như luật điền thổ, khai tài, khai lập nghiệp ở xa, bằng theo lộ tịch và phân thư chúc từ của tiền nhân để lại, tưởng không có nước nào có chứng cứ đầy đủ như nước ta. Quyền ngoại giao ta ngày nay đã phó thác cho nước Pháp, quyền này đã có nước Bảo Hộ đối phó. Ký giả viết bài này cốt có hai điều cảm khái:
– Triều Nguyễn ta từ đời Minh Mạng về trước rất lưu tâm mặt quốc phòng, không chỉ về mặt biên giới lục địa như Xiêm La, Cao Miên, săn sóc mở mang, mà về đường hải phận thường có thuyền quan phải đi khảo sát và giao thiệp với các xứ ngoài (đời ấy gọi là Dương Đình Hiệu Lực).
– Những sách tiền nhân ta viết bằng chữ Hán, trong đó có nhiều sách giá trị quý báu, có quan hệ đến quốc gia và xã hội rất đáng biểu dương, không phải đáng mạt sát hết như phần đông các thiếu niên đã tưởng lầm. Nhân vấn đề đảo Tây Sa này, may ra những sách có giá trị trong kho Hán học bỏ xó kia, có một vài thứ đã chết sẽ sống lại chăng?6
Như vậy, theo Cụ Huỳnh Thúc Kháng, về vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa cần phải chú ý đến các yếu tố sau đây:
1. Vấn đề tranh chấp quần đảo Hoàng Sa đã diễn ra từ cuối những năm 40 của thế kỷ XX.
2. Quốc gia nào có đầy đủ các bằng chứng, cứ liệu sớm về phân thư, chúc thư, luật điền thổ – lập nghiệp của tiền nhân để lại, cũng như các thư tịch cổ khẳng định chủ quyền của quần đảo này thì quốc gia đó có luận cứ khoa học khẳng định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa thuộc về mình.
3. Cần sử dụng các tư liệu Hán Nôm, các tài liệu thuộc về thư tịch cổ để tìm cơ sở khoa học cho chủ quyền quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam đã từ lâu.
4. Cần chú ý nghiên cứu triều Nguyễn về vấn đề bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, đặc biệt là biên giới biển đảo.
5. Trong tất cả các tài liệu cổ, tác phẩm Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn là tài liệu có giá trị nhất về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa đối với Việt Nam.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã qua đời cách đây gần 70 năm (21/04/1947) nhưng những trăn trở, suy nghĩ, những lời răn dạy của Cụ về đất nước, về chủ quyền biển đảo vẫn còn nguyên giá trị lịch sử của nó. Nhớ về Cụ, chúng ta không chỉ nhớ về một con người có nhân cách trong sáng, ngay thẳng, trung thực, “không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm giàu sang” chỉ “phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”; nhắc lại những bút tích của cụ về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, ta lại càng thấm thía hơn đạo đức, nhân cách và trách nhiệm của Cụ đối với dân tộc và đất nước.
(Nguồn: Tạp chí Sông Hương11-2016)