Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016

Thơ Quí Nghi (Tại PATONG PUKET THAI LAN D suy nghĩ về giáo dục con người của họ mình viết bài thơ :CỜ TỔ QUỐC CỜ PHẬT SONG HÀNG)
Nơi đây:
Cờ phật cờ Tổ quốc song hàng
Đất nước của chùa vàng
Con người thiện tâm
Tuổi trưởng thành cạo đầu
Xung chùa tụng kinh
Ăn cơm chay niệm phật
Bài học đầu đời :
Chắp tay nhắm mắt
Kính phật tổ , trọng chúng sinh, yêu đất nước ...
Mai ngoài đời :
Học gì ,làm đâu ...
Cái mầm thiện trong lòng đã nở
Sẽ phát tán xum xuê rực rỡ
Sẽ đơm hoa kết trái ngon lành
Và tôi hiểu :
Ở đây
Cờ Tổ quốc ,cờ Phật song hành ! .

MÙA ĐÔNG



Đã thấy gió đông trên cành lá
Sương mỏng manh mỗi sáng la đà
Mùa đông đến đồng trơ gốc giạ
Những đàn chim tránh rét về nam.

Cạnh sân trường lá bàng chấm đỏ
Lá chăm – pa xao xác rụng rơi.
Những quả phượng đến ngày tán hạt.
Trên cành khô nứt kẽ, đung đưa.

Lại tiếp rồi những gương mặt mới
Ríu rít vui trong những giảng đường
Lòng bỗng thấy nao nao nỗi nhớ
Những mùa đông lãng đãng thơ ngây.

Đã qua rồi, thời học trò thơ dại.
Nay tuổi thầy.. tóc bạc. muối tiêu
Những trải nghiệm một đời cầm phấn
Như quả cây tích ngọt dâng đời.
.
Mùa đông đến, hanh heo gió lạnh.
Em có về? Thêm áo ấm không em?

Hưng Yên tháng 10 năm 2016

Vì sao vua Gia Long trả thù tàn khốc nhà Tây Sơn



Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát, ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?
Đôi nét lịch sử
Sau 25 năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, ngày mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu (13/6/1801) Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô cũ Phú Xuân, đuổi vua tôi Cảnh Thịnh chạy dài ra Bắc. Một năm sau, ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1/6/1802), tuy chưa chính thức lên ngôi hoàng đế (1) nhưng theo lời đề nghị của bầy tôi, vua ban hành niên hiệu Gia Long, mở ra một triều đại mới của nhà Nguyễn.
moi-han-cua-vua-gia-long-voi-nha-tay-son-tan-bi-kich-lich-su-11-003411
Lăng Gia Long
Vào đầu thế kỷ XX, vua Khải Định đã chọn ngày này (mồng 2 tháng Năm âm lịch) làm ngày quốc khánh của nước Đại Nam, đặt tên là ngày Hưng quốc khánh niệm. Những ai ở lứa tuổi trên 70 ở Trung kỳ, từng cắp sách đến trường có thể còn nhớ đôi chút về ngày này, nhất là ở Huế. Đó là ngày mừng đất nước thống nhất. Niên hiệu Gia Long bao hàm trong ý nghĩa đó – vua muốn nói ông là người đã đi từ Gia Định thành tới Thăng Long thành để thống nhất đất nước (Võ Hương-An, Thăng Long và Gia Long).
Ngay sau khi chiếm lại Phú Xuân và trong khi vua Cảnh Thịnh của Tây Sơn đang còn làm chủ ở miền Bắc thì Nguyễn Vương đã cho “Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ” (Thực lục I, tr.473).
Sau khi chiếm được Bắc Hà, bắt được trọn gói vua tôi, anh em vua Cảnh Thịnh, hoàn thành cuộc thống nhất đất nước từ Nam chí Bắc, vua Gia Long khải hoàn về kinh. Ngày Giáp Tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 (7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802) vua đem tù binh ra làm lễ hiến phù ở Thái Miếu. Hiến phù là lễ trình diện tù binh trước bàn thờ tổ tiên, và Thái Miếu là nơi thờ 9 đời chúa Nguyễn.
Sau lễ, “Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản [vua Cảnh Thịnh] và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì, cho 5 voi xé xác, đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại [Ngoại Đồ Gia, cơ quan chế tạo của triều đình, sau gọi là Võ Khố] (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài” (Thực lục I, tr.531).

 Tranh minh họa cảnh hành hình nữ tướng Bùi Thị Xuân và gia đình.
Trong chiếu bố cáo cho toàn dân được rõ về lễ hiến phù ngày 7 háng 11 Nhâm tuất, có câu mở đầu: “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” và kết thúc bằng câu “Nhạc Huệ trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tan xương, để trả thù cho Miếu Xã, rửa hận cho thần nhân” (Thực lục I, tr.532,533).
Theo tài liệu của Bissachère, trước khi nhận lãnh cái chết thảm khốc, anh em vua Cảnh Thịnh còn bị bắt phải chứng kiến cảnh lính tráng tiểu tiện vào sọt đựng hài cốt của cha (Nguyễn Huệ) và bác (Nguyễn Nhạc) (theo hồi ký của Bissachère) trước khi hài cốt bị đem “giã nát rồi vất đi”.
Phẩm bình của lịch sử
Tại miền Nam trước 1975, có hai bộ thông sử tiếng Việt thông dụng là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim và Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn. Viết về vua Gia Long, cả hai bộ sử đều giống nhau ở một điểm: có phê phán sự hẹp lượng của vua Gia Long qua việc giết hại công thần (vụ án Nguyễn Văn Thành và vụ án Đặng Trần Thường), có kể rõ việc hành hình trả thù Tây Sơn nhưng hoàn toàn không bình luận, phê phán gì đến sự “quá tay” trong việc này. Tại sao?
Hoa Bằng, tác giả Quang Trung, Anh hùng dân tộc (Nxb Bốn Phương, Saigon, 1953) khi kết luận thiên biên khảo đầu tiên bằng tiếng Việt về đề tài này đã ngậm ngùi viết: “Vậy mà Nã Phá Luân [Napoléon I] được gởi nắm xương trong đền Invalides để cho người sau hoài niệm, viếng thăm; còn Quang Trung: mả phải đào, xương phải tán, dòng dõi bị chu di, sự nghiệp liệt liệt oanh oanh gói tròn trong một chữ ‘Ngụy’”.

Tượng hoàng tử Quang Đức, con trai vua Quang Trung
Nhà viết sử Trần Gia Phụng trong Nhà Tây Sơn (Nxb Non Nước, Toronto, 2005) cũng đã có lời bình phẩm nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc: “Cuộc trả thù được vua Gia Long xem là ‘nghĩa lớn Kinh Xuân Thu’ nhưng hành hạ di cốt địch thủ trước mắt con cái họ trái hẳn với đạo lý cổ truyền của dân tộc” (tr.240).
Phê bình mạnh tay, mạnh mẽ hơn có Quách Giao:
Nhà Nguyễn đối với nhà Tây Sơn vô cùng khắc nghiệt. Quật mả Vua Thái Ðức, Vua Quang Trung, chém giết dòng họ, tướng tá nhà Tây Sơn đến thế, Nguyễn Phúc Ánh chưa cho là đủ, còn truyền đào mồ mả của cha ông hai nhà anh hùng áo vải và của những người đã theo nhà Tây Sơn và đã chết trước khi non sông đổi chủ.
Còn đối với Nhà Tây Sơn thì Nguyễn Phúc Ánh chém tất cả dòng họ, từ Vua Bửu Hưng [Cảnh Thịnh], cho tới một em bé mới sanh mà đã lọt vào ngục thất. Lại truyền đào mả Vua Thái Ðức và Vua Quang Trung, nghiền xương đổ xuống bể. Còn sọ thì đem xiềng nơi ngục thất trong Hoàng Cung để làm lọ đi tiểu.
Ðể nhổ cỏ cho sạch gốc, Nguyễn Phúc Ánh sức mọi nơi truy tầm những bà con gần xa của họ Nguyễn Tây Sơn, và những Tướng Tá của Tây Sơn còn trốn tránh nơi sơn dã. Hai người con Vua Thái Ðức là Văn Ðức, Văn Lương và cháu nội, con Nguyễn Bảo, là Văn Ðẩu, nương náu nơi Mộ Ðiểu, vùng An Khê.
Vua tôi Nhà Nguyễn biết nhưng sợ người Thượng, không dám đến bắt. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 12 (1832) thấy tình thế đã yên, ba chú cháu mới đem nhau về thăm quê cũ ở Kiên Mỹ. Bọn bất lương đi mật báo. Quân Nhà Nguyễn đến vây bắt giải về Phú Xuân giết chết.
Ngót 150 năm, Nhà Nguyễn cố làm cho người người quên Nhà Tây Sơn. Những người yêu nước vẫn luôn nhớ đến Nhà Tây Sơn, ngọn bút yêu nước vẫn chép đi chép lại, vẫn tìm tòi trong nơi khuất tịch những tài liệu còn dấu cất, để viết về Nhà Tây Sơn.
Và tiếng Anh hùng Áo Vải, Anh Hùng Dân Tộc mãi còn vang, khi nhẹ nhàng, khi mạnh mẽ, trên đất nước Việt Nam, từ Nam chí Bắc. Còn Nhà Nguyễn đã làm được gì?
Có người bảo rằng đã thống nhất Bắc Nam. Ðó là quên rằng chính Nhà Tây Sơn đã thống nhất Bắc Nam, rồi Nguyễn Phúc Ánh đánh chiếm trên tay Ðông Ðịnh Vương và Cảnh Thịnh. Sau bao phen bể nổi dâu chìm Nhà Nguyễn còn để lại tiếng Rước voi, cõng rắn.
Trăm năm bia đá thời mòn/ Nghìn năm bia miệng mãi còn trơ trơ.

 Anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ thống nhất đất nước, dẹp trừ ngoại xâm.
Trong văn hóa phương Tây, đánh nhau là đánh nhau nhưng không có chuyện trả thù kẻ chiến bại một cách tàn nhẫn, nhất là đối với người đã chết. Do đó, khi bắt gặp hành động “dã man” này của vua Gia Long, Stanley Karnow, tác giả tiếng tăm bộ sử VietNam, A History (Penguin Book, 1984) đã viết:
“Ông ta tỏ ra chẳng khoan dung chút nào đối với kẻ thù đã chiến bại, dù đã chết hay còn sống. Binh sĩ của ông đã quật xương cốt của một cặp vợ chồng cầm đầu Tây Sơn đã chết [Nguyễn Huệ], tiểu tiện vào xương cốt đó trước sự chứng kiến của con cái họ và những người này sau đó tay chân bị trói vào 4 con voi và xé nát.” (p.65)
Nếu Nhà Tây Sơn không có Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến thắng quân Thanh và quân Xiêm vang dội trong lịch sử thì hành động “vì 9 đời mà trả thù” của vua Gia Long chưa chắc đã bị búa rìu dư luận nhiều như đã xảy ra.
Ngoài việc ghi chép khá rõ ràng của Quốc Sử Quán Nhà Nguyễn thì hồi ký sống động của giáo sĩ De la Bissachère về việc hành hình trả thù của vua Gia Long đối với anh em và vua tôi Cảnh Thịnh (2), đã gây tác động tâm lý không nhỏ trong giới sử học Đông Tây (Thực ra ông này không chứng kiến cuộc hành hình mà chỉ nghe ai đó kể lại).
moi-han-cua-vua-gia-long-voi-nha-tay-son-tan-bi-kich-lich-su-11-003420
 Nguyễn Ánh đã quật mồ Nguyễn Huệ sau khi dẹp nhà Tây Sơn.
Thử đi vào mạng lưới toàn cầu, gõ mấy từ khóa như Gia Long, Tây Sơn, Nguyễn Huệ, thì tha hồ đọc công luận phẩm bình, đa số đều chê Gia Long về việc này. Điều này cũng dễ hiễu thôi vì hào quang chiến thắng quân Xiêm và quân Thanh của vua Quang Trung rực rỡ quá, đã che mất sự thật thê thảm ở bên trong.
Thêm vào đó, với mấy chục năm lịch sử triều Nguyễn do Gia Long khai sáng, đã bị miệt thị thậm tệ, đã ảnh hưởng không ít trên sự nhận thức của người đọc, nhất là giới trẻ. Mặc dầu ngày nay gió đã đổi chiều, đã bắt đầu có sự chuyển biến trong nhận thức về sự nghiệp của Nhà Nguyễn (3) nhưng không thiếu chi người vẫn tư duy trong nếp cũ.
Bài liên quan
Câu hỏi đặt ra
Các sách sử Việt Nam viết về hành vi “tàn ác” trả thù Tây Sơn của vua Gia Long đều lấy tài liệu từ các bộ chánh sử của Nhà Nguyễn (Đại Nam Thục lục đệ nhất kỷ, Đại Nam Liệt Truyện ), trước khi biết đến các chi tiết khác do nguồn sử liệu Tây phương cung cấp. Sử thần Nhà Nguyễn trong Quốc Sử Quán đã không giấu diếm gì cả, viết trắng chuyện này ra cho hậu thế cùng biết, người sau chỉ lặp lại, chỉ thêm lời bình phẩm nặng nể mà không có bớt.
Riêng người viết, trong niềm ngưỡng mộ chiến thắng oanh liệt hào hùng của vua Quang Trung trước quân Xiêm và quân Thanh xâm lăng, ban đầu thì cũng đồng ý với những bình phẩm chê trách hành động của vua Gia Long đối với Tây Sơn là thái quá, tàn nhẫn, nhưng sau đó, khi được biết những nguồn tin khác, không khỏi đắn đo tự hỏi và tìm lời giải đáp.

Thành Gia Định, nơi chúa Nguyễn chạy vào ẩn náu khi bị Tây Sơn đánh.
Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát (4)[1] .Ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?
Sau khi làm chủ Bắc hà, vua “Sai chọn người dòng dõi họ Trịnh để giữ việc thờ cúng họ Trịnh. Trước là khi đại giá Bắc phạt, người họ Trịnh ai ai cũng sợ bị giết. Vua thấu rõ tâm tình, xuống chiếu dụ rằng: ‘Tiên đế ta với họ Trịnh vốn là nghĩa thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi, dần nên ngăn cách, đó là việc đã qua của người trước, không nên nói nữa. Ngày nay, trong ngoài một nhà, nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời, thương người còn sống, nhớ người đã mất, nên lấy tình hậu mà đối xử. Vậy nên cùng báo cho nhau, họp chọn lấy một người trưởng họ, giữ việc thờ cúng để giữ tình nghĩa đời đời” (Thực lục I, tr.508).
Vậy là Trịnh Tư được giao lo việc thờ cúng, họ Trịnh được cấp 500 mẫu ruộng để lấy huê lợi cúng tế hàng năm, 247 người họ Trịnh được xét tha thuế dinh và miễn binh dao (đi lính và chịu sưu dịch).
Ai cũng biết La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, được coi như một Gia Cát Lượng của vua Quang Trung, một cố vấn tối cao, được vua quan trên dưới đều kính nể (4 lần vua khẩn khoản mời ra giúp, cuối cùng nhận chức Viện trưởng Viện Sùng Chính năm 1790, giúp vua chấn chỉnh việc giáo dục, văn hóa, giúp vua chọn đất Nghệ An làm Phượng Hoàng trung đô…).

Nguyễn Ánh không phải người bạ đâu giết đó, nhưng lại diệt nhà Tây Sơn đến từng người.
Khi Nguyễn Vương tái chiếm Phú Xuân, ông đang ở Huế giúp vua Cảnh Thịnh nhưng không chạy theo khi vua đào thoát (hay chạy theo không kịp?) và dường như không bị bị bắt mà chỉ quản thúc tại gia, dù phía Nguyễn Vương biết rõ lý lịch, sau đó Nguyễn Vương đã ra lệnh:
“Thả xử sĩ ở Nghệ An là Nguyễn Thiếp về. Thiếp là người xã Nguyệt Áo huyện La Sơn, đậu Hương tiến đời Lê, làm quan huyện Thanh Chương, bỏ quan về nhà. Khi nhà Lê mất, theo lời mời của Nguyễn Quang Toản mà ở lại Phú Xuân. Tới nay vào yết kiến, xin trở về làng. Vua [Nguyễn Vương] dụ rằng ‘Khanh là người tuổi tác, đạo đức, rất được người ta trông cậy. Sau khi trở về núi nên khéo léo đào tạo lấy nhiều học trò để ra sức phò giúp thịnh triều, khỏi phụ tấm lòng rất mực mến lão kính hiền của ta.’ [người viết in đậm]. Bèn sai quan quân đưa về” (Thực lục I,tr.445).
Lại năm 1803, phái đoàn do vua Cảnh Thịnh phái đi sứ Nhà Thanh (gồm Lê Đức Thận, Nguyễn Đăng Sở và Vũ Duy Nghi) bị trả về nước, bị quan Bắc thành bắt giải về Kinh, vua Gia Long tha hết cho về quê. Lại khi Bộ Hình tâu xin vua định đoạt số phận của người vợ lẽ Nguyễn Nhạc cùng 2 người em họ tên Đại và Vạn bị bắt thì vua nói: “Vợ lẽ Nhạc là một người đàn bà thôi. Bọn Đại tuy là thân đảng của giặc Nhạc mà không dự binh quyền, nay Nhạc chết rồi, giết đi thì có ích gì?” (Thực lục I, tr.544).
Những chứng dẫn nho nhỏ đó cho thấy vua Gia Long là con người phải chăng, tùy theo người, theo trường hợp mà có quyết định tha hay phạt, chứ không phải bạ đâu giết đó, thà giết lầm hơn bỏ sót. Vậy tại sao giết Tây Sơn chưa đủ, phải hành hạ mới hả, kể cả nắm xương khô. Thù chi mà dữ vậy?
Sự thật là đây
Về chuyện vua Gia Long trả thù Tây Sơn, nhà viết sử Trần Gia Phụng đã đi xa hơn các học giả đi trước khi lần đầu tiên ông phân tích chính xác rằng:
“Không kể cá nhân ông bị quân đội Tây Sơn truy đuổi nhiều lần suýt chết, vua Gia Long thâm thù nhà Tây Sơn vì ba việc chính: thứ nhất, năm 1777 Định Vương Nguyễn Phúc Thuần [chú ruột vua Gia Long], Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương [em chú bác ruột] và Nguyễn Phúc Đồng [anh ruột] bị quân Tây Sơn bắt giết ở Gia Định. Thứ nhì, hai người em [ruột] của Gia Long là Nguyễn Phúc Mân và Nguyễn Phúc Thiển bị chết về tay quân Tây Sơn năm 1783. Thứ ba, vua Quang Trung cho quật mộ của Nguyễn Phúc Côn (phụ thân của Gia Long), đem hài cốt đổ xuống sông năm 1790” (Việt Sử Đại Cương, Tập 2, tr.445).
Chừng đó nợ máu nghe đã nặng (5 người cật ruột), nhất là món nợ thứ 3, nhẹ vật chất mà nặng tâm linh và đạo đức, ít người biết. Nhưng kể vậy cũng chưa đủ.
moi-han-cua-vua-gia-long-voi-nha-tay-son-tan-bi-kich-lich-su-11-003426
Nguyễn Huệ đã quật mồ 8 đời chúa Nguyễn và cả thân phụ vua Gia Long.
Khi đọc câu mở đầu của chiếu bố cáo lễ hiến phù: “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” * (Thực lục I, tr.532) tôi không khỏi mỉm cười một mình với ý nghĩ: thiệt mấy ông đời xưa văn chương lớn lối quá, cái chi cũng lôi điển tích với sách vở ra, tô vẽ cho long trọng. Nhưng sau đó, khi đọc kỹ Thực lục mới biết mấy chữ vì 9 đời mà trả thù mang một ý nghĩa rất thực, rất cụ thể, bên cạnh màu sắc điển tích văn chương tô điểm.
* “Xuân Thu, Công Dương truyện: Trang công năm thứ 4 chép: Tề Tướng công giết nước Kỷ, vì ông tổ xa đời là Ai công mà phục thù, đời gọi là mối thù 9 đời” (Chú thích của dịch giả Thực lục I, tr.532).
Ngày 13/6/1801, Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô Phú Xuân, nơi ông đã vội vã ra đi khi mới 13 tuổi (ta), và ròng rã 27 năm mơ ước được trở về. Tuy đã làm chủ được Phú Xuân nhưng lực lượng hùng hậu của Tây Sơn Cảnh Thịnh vẫn còn ở bên kia lũy Trường Dục (Quảng Bình), vậy mà đến đầu tháng 8 năm đó đã lo sửa sang lăng mộ tổ tiên và cấp tốc hoàn tất ngay trong tháng.
Sao việc này lại làm gấp rút còn hơn cả công tác sửa sang thành trì, xây đồn đắp luỹ để phòng chống Tây Sơn? Xin đọc kỹ đoạn ghi chép của Thực lục sau đây, có thể thấy được lý do thúc đẩy (những chữ in đậm là do người viết, chữ ghi giữa hai ngoặc đứng [x] là chú giải của người viết):
“Tháng 9, ngày Ất hợi [ 9/8/1801], sửa lại sơn lăng.
Trước kia giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ tham bạo vô lễ, nghe nói chỗ đất phía sau lăng Kim Ngọc (tức lăng Trường Mậu) [lăng của chúa Ninh Nguyễn Phúc Thái] rất tốt, định đem hài cốt vợ táng ở đó. Hôm đào huyệt, bỗng có hai con cọp ở bụi rậm nhảy ra, gầm thét vồ cắn, quân giặc sợ chạy. Huệ ghét, không muốn chôn nữa. Sau Huệ đánh trận hay thua, người ta đều nói các lăng liệt thánh [các chúa Nguyễn] khí tốt nghi ngút, nghiệp đế tất dấy.
Huệ bực tức, sai đồ đảng đào các lăng, mở lấy hài cốt quăng xuống vực. Lăng Hoàng Khảo ở Cư Hóa [lăng Cơ Thánh của Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long] Huệ cũng sai Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ đào vứt hài cốt xuống vực ở trước lăng. Nhà Ngũ ở xã Kim Long bỗng phát hỏa. Ngũ trông thấy ngọn lửa chạy về. Người xã Cư Hóa là Nguyễn Ngọc Huyên cùng với con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài ban đêm lặn xuống nước lấy vụng hài cốt ấy đem giấu một nơi. Đến nay, Huyên đem việc tâu lên.

Nguyễn Huệ.
Vua thương xót vô cùng, thân đến xem chỗ ấy, thì vực đã bồi cát mấy chục trượng. Tức thì sai chọn ngày lành làm lễ cáo và an táng lại. Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Ngày Kỷ hợi [1/11/1801], vua thân đến tế cáo, nghẹn ngào sa lệ, bầy tôi đều khóc cả. Sai đổi xã Cư Hóa làm xã Cư Chính, cho dân miễn dao dịch làm hộ lăng. Cho Huyên làm Cai đội (năm Minh Mệnh thứ 11[1830] phong An Ninh bá, lập đền thờ ở núi Cư Chính) con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài tòng quân ở Bình Định cũng được gọi về hậu thưởng cho” (Thực lục I, tr.466).
Gạt ra ngoài những chi tiết hoa lá cành như hai con cọp trong bụi rậm nhảy ra, đang đào mả thì nhà cháy, v.v., đoạn sử ngắn ngủi do Thực lục ghi lại tiết lộ hai điều quan trọng mà ít người biết đến hoặc biết mà vì một lý do nào đó đã lơ đi hoặc chỉ phớt nhẹ nói qua:
– Thứ nhất, Quang Trung Nguyễn Huệ đã đào hết lăng tẩm của 8 đời chúa Nguyễn tại Thừa Thiên, lấy hài cốt ném xuống sông. Việc này cộng với việc giết chết vị chúa thứ 9 là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần tại Long Xuyên năm 1777 thì quả nhiên vua Gia Long tính sổ 9 đời không sai chậy chút nào. Vì vậy có thể nói được rằng chữ 9 đời có một ý nghĩa rất cụ thể.
moi-han-cua-vua-gia-long-voi-nha-tay-son-tan-bi-kich-lich-su-11-003430
Kinh thành Huế.
Đây là 8 đời chúa Nguyễn:
1.Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613);
2.Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635);
3.Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648);
4.Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687)
5.Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687-1691);
6.Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725);
7.Chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ (1725-1738);
8.Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765);
Về ông tổ Nguyễn Kim, có lẽ vì không biết đích xác mộ phần nẳm ở đâu trong cái bát ngát của núi Triệu Tường ở Thanh Hóa, nên vua Quang Trung đành phải cho qua mà không tính sổ.
Tám đời chúa Nguyễn này không có hận thù gì với anh em Tây Sơn, đã có công rất lớn đối với dân tộc và đất nước khi kế tục nhau mở nước về phương Nam, đến tận Cà Mau, Châu Đốc, cống hiến cho tổ quốc non một nửa nước, trài dài từ Phú Yên trở vào Nam, với đất đai trù phú, nguồn lợi dồi dào, rộng hơn lãnh thổ nam tiến của các triều Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê cộng lại. Không có sự nghiệp này thì hậu thế ngày nay lấy chi để khoe với thế giới rằng “nước ta hình cong như chữ S” với “rừng vàng biển bạc”?!
– Thứ hai: Phần mộ của ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long cũng bị quật lên và hài cốt ném xuống sông.
Ông Nguyễn Phúc Côn là con thứ hai của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, mất năm 1765, khi con là Nguyễn Phúc Ánh đang còn bé. Khi vua Gia Long lên ngôi Hoàng đế (1806) mới truy tôn cha làm Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế, chứ cho đến khi chết dưới tay quyền thần Trương Phúc Loan, ông chẳng làm vua làm chúa gì. Chỉ vì con ông là Nguyễn Phúc Ánh dám chống lại Tây Sơn mà ông đã không được ngủ yên, lâm vào cảnh con làm cha chịu!

Nguyễn Ánh bị Nguyễn Huệ giết chết anh em trai, quật mồ cha.
Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả cho biết thêm một chi tiết khác:
“Theo truyền thuyết, khi Tây Sơn khai quật hài cốt đức Hưng Tổ ném xuống sông thì một hôm Nguyễn Ngọc Huyên bỏ lưới bắt cá, sau ba lần đều thấy cái sọ nằm trong lưới. Huyên cho là sọ của một vị nào anh linh nên kiếm nơi an táng tử tế. Khi vua Gia Long lên ngôi, đi tìm lại hài cốt của thân phụ, nghe người làng tường thuật, ngài cho đòi Ngọc Huyên bảo chỉ chỗ. Khi đào được sọ lên, vua chích huyết ở tay mình cho giọt vào sọ, sọ liền hút những giọt huyết này (lối thử này cho biết mối liên hệ cốt nhục giữa hai người)” (tr.193).
Thực lục có nói khi Nguyễn Ngọc Huyên chết thì được lập đền thờ và phong làm An Ninh bá. Ở thượng lưu sông Hương có một ngôi miếu, tục gọi là miếu Ông Chài, chính là miếu ông Huyên vậy.
Trong văn hóa Việt Nam, phận làm con cháu là phải lo gìn giữ mồ mả tiên tổ cha ông. Do đó chúng ta thông cảm với vua Gia Long chỉ trong 2 tháng sau khi tái chiếm Phú Xuân đã vội vã hoàn tất việc tu sửa lăng mộ bởi khi đã biết tình trạng lăng mộ bị phá tanh banh thê thảm như thế thì không một ai có thể chờ đợi được nữa.

Một số nhà nghiên cứu nhận định Nguyễn Ánh trả thù nhà Tây Sơn là “có vay, có trả”.
Trong lịch sử Việt Nam, việc tranh giành quyền lực dẫn đến những hành động giết hại nhau tàn nhẫn không phải là hiếm. Điển hình, để cướp ngôi nhà Lý, Trần Thủ Độ không ngần ngại dồn Lý Huệ Tông vào chỗ chết, với ý đồ nhổ cỏ tận gốc, mặc dù Huệ Tông đã biết thân phận, bỏ ngai vàng, vào tu ở chùa Chân Giáo. Đã thế, Trần Thủ Độ còn bày mưu sập bẫy tôn thất Nhà Lý chôn sống trọn gói (may mà Hoàng tử Lý Long Tường nhanh chân thoát qua tị nạn ở Cao Ly, trở thành thuỷ tổ họ Lý của xứ Đại Hàn ngày nay).
Nhưng có lẽ trong cuộc tranh chấp quyền lực chưa có ai trong lịch sử phải trả cái giá 5 mạng người ruột thịt và 9 ngôi mộ cha ông tiên tổ tanh banh với xương cốt không biết đâu tìm như trường hợp vua Gia Long trong khi đối đầu với Tây Sơn để phục hồi cơ nghiệp của ông cha đã tốn công xây dựng.
Ở đời, có vay thì có trả. Nợ nào cũng có tính lãi suất, chỉ có khác là nặng hay nhẹ, không hình thức này cũng hình thức khác. Nếu Quang Trung Nguyễn Huệ không tạo nhân ác thì có thể đã không gặp quả ác. Hận thù luôn luôn vẫy gọi thù hận là chuyện thường của thế gian, huống chi lại có yếu tố tranh giành quyền lực trong đó, tham lam và sân hận hẳn phải bốc lên ngùn ngụt.
Phải chăng nên thử tự đặt mình vào địa vị của vua Gia Long để có nhiều thông cảm và có lời phẩm bình phải chăng hơn.
Một vài cảm nghĩ
Là hậu thế, có lẽ không mấy ai vui khi biết sự thật của tấn thảm kịch Nguyễn Quang Trung và Nguyễn Gia Long. Cả hai, đối với chúng ta, đều có chỗ đáng tôn vinh lẫn chỗ bất cập. Riêng ngưởi viết, từ tấn thảm kịch lịch sử này, học hỏi được một đôi điều, xin gọi là chia sẻ.
1/ Qua việc điện thư của bạn bè và thân hữu gởi đến tới tấp kèm chuyện “Một ngày lễ Vu lan sầu thảm” của Tịnh Thuỷ, tôi nhận ra rằng té ra loại “lịch sử tiểu thuyết” dễ đi vào lòng người hơn là chính sử khô khan. Đồng ý khi tiểu thuyết hóa lịch sử thì tha hồ cho trí tưởng tượng vẽ vời nhưng cái căn bản của nó xin đừng đổi trắng thay đen.
moi-han-cua-vua-gia-long-voi-nha-tay-son-tan-bi-kich-lich-su-11-003437
 Vợ chồng danh tướng Trần Quang Diệu – Bùi Thị Xuân bị vua Gia Long hành hình.
Thực lục ghi rõ vụ hành hình vua tôi anh em Cảnh Thịnh diễn ra ngày giáp tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 tức ngày 7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802. Làm chi có ngày Vu Lan trong đó? Có lẽ tác giả muốn gây ấn tượng cho ngưởi đọc về sự tàn ác khó dung tha của vua Gia Long nên mới lựa một ngày như thế. Tội nghiệp cho vua! Vua chỉ dự lễ hiến phù, không dự cuộc hành hình, chỉ sai quan thi hành, nên cuộc đối thoại tay đôi giữa vua và bà Bùi Thị Xuân cũng chỉ là cơ hội bày ra để mạt sát thoải mái. Tội nghiệp.
2/ Việc cải táng mộ ông Nguyễn Phúc Côn có thể hiểu được, vì tìm được hài cốt và hài cốt này đã được vua Gia Long xác tín rằng đó là di cốt của người đã sinh thành ra ông. Nhưng với 8 chúa thì sao? Sử nói Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Đồng ý là xây lên cao, làm cho to lớn đẹp đẽ hơn xưa, nhưng hài cốt không tìm thấy thì chôn cái gì trong đó? Chẳng lẽ chỉ là một ngôi mộ trống không? Một cái mả gió?
Trong một dịp về thăm Huế sau 7 năm “đi học làm người tốt” (!), tôi được biết sau năm 1975, do đói quá, người ta đã làm bậy. Việc đào trộm mồ mả lăng tẩm giới quyền quí đã xảy ra với ý đồ tìm vàng bạc châu báu tùy táng. Người bạn kể cho nghe (tôi chưa có cơ hội kiểm chứng) khi cụ Vương Hồng Sển, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng của Miền Nam, biết được kẻ gian đã kiếm được nữ trang trong lăng Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức) và đem bán thì cụ đã kêu trời.

 Chân dung Nguyễn Ánh trong thời gian lưu lạc ở Xiêm La. (Ảnh: Wikimedia)
Dưới cái nhìn cơm áo của kẻ trộm, đó là vàng, tính theo thời giá của chỉ và lượng. Dưới cái nhìn của cụ Vương, đó là đổ cổ vô giá của quốc gia! Nhưng đó không phải là chi tiết tôi quan tâm, vì bảo vật quốc gia người ta bán ra nước ngoài nhiều rồi. Chi tiết lý thú mà tôi nghe được đã giúp tôi hiểu biết thêm và lý giải thắc mắc nêu trên. Chi tiết đó là, bọn kẻ trộm, khi đào đến quan tài của một ông chúa nào đó đã không thấy hài cốt mà chỉ thấy hình người ta bằng gỗ! Điều này xác nhận giả thiết mà tôi đã nghĩ trong đầu nhưng không biết cách nào để kiểm chứng, ấy là tục chiêu hồn nạp táng.
“Chiêu hồn nạp táng” là gì?
“Trong gia phả các họ rất chú trọng mục: Mộ táng ở đâu. Trong mục này có một số trường hợp ghi chú: “Chiêu hồn nạp táng”. Đó là những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuối hay do thú dữ vồ… không tìm được tử thi. Thân nhân làm hình nhân và làm lễ an táng theo như lễ an táng thông thường.
Được nghe các cụ kể lại rằng: chất liệu làm hình nhân, có địa phương dùng cây núc nác (còn gọi là sò đo thuyền, mộc hồ điệp, nam hoàng bá, bạch ngọc nhi). Núc nác là loại gỗ mềm và xốp, dễ tạo hình, chôn dưới đất lâu hoai, lại dễ kiếm vì mọc ở nhiều nơi. Có địa phương dùng bùn lấy ở giữa dòng sông, có địa phương dùng mùn đào ở giữa ngã tư đường cái.
Hình nhân được đẽo gọt hoặc nhào nặn thô sơ, có đầu mình chân tay là được (vì đa số không phải là nghệ nhân). Kích thước của hình nhân khoảng 30-40 cm chiều dài. Thi hài tượng trưng đó cũng được khâm liệm, đưa vào áo quan làm bằng gỗ vàng tâm, kích thước nhỏ bé, hoặc đưa vào tiểu sành.

Nguyễn Ánh 2 lần bị Nguyễn Huệ đánh phải chạy sang Xiêm La.
Trên hình nhân có phủ lên linh vị viết trên giấy kim tuyến, nội dung giống như linh vị đặt ở bàn thờ. Trước khi làm lễ an táng có mời thầy cúng làm bùa ấn phù phép để vong hồn nhập vào hình nhân. Lễ an táng và các lễ các lễ khác cũng tiến hành như tang lễ thông thường.
3/ Hình như có một nhà tư tưởng nào đó đã nói: “Làm thầy thuốc lầm thì chết một người; làm thầy địa lý lầm thì giết một họ; làm chính trị lầm thì giết một nước, làm làm văn hóa lầm giết cả một đời”.
Dưới ảnh hưởng của môn phong thủy Trung Hoa, người Việt từ vua cho chí dân đều tin rằng âm phần tổ tiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh và tương lai của con cháu. Bởi vậy ai cũng mong muốn tìm cho được một huyệt mả tốt để được kết phát, để con cháu được hưởng phước vinh hoa phú quí dài lâu. Bởi vậy, để tận diệt kẻ thù không gì bằng triệt long mạch, phá huyệt mộ, đào mả cha ông nhà người ta lên.
Làm thế thì chắc chắn con cháu không thể nào ngóc đầu lên được, lấy gì mà chống trả. Quang Trung Nguyễn Huệ, ngoài việc sử dụng binh lực đánh Nguyễn Vương chạy dài ra biển, trốn qua đến Xiêm La hai lần, vẫn không quên sử dụng chiêu thức này để hỗ trợ. Và để cho chắc ăn, thà phá lầm hơn bỏ sót, đã không những quật mồ thân sinh vua Gia Long là huyết thống trực hệ mà còn quật mồ cả 8 đời chúa Nguyễn xa lắc. Thật là một sự tính toán chu đáo.
Tuy toan tính chu đáo như vậy nhưng Nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ chỉ tồn tại có 14 năm (1788-1802, 1788 là năm vua Quang Trung đăng quang trước khi ra Bắc phá quân Thanh), trong khi Nguyễn Vương, mặc dầu bị đánh trúng tử huyệt (theo quan niệm phong thủy) nhưng sau 25 năm bền bĩ chiến đấu nhọc nhằn, đã thống nhất đất nước, phục hưng được cơ nghiệp tổ tiên, lập ra triều đại mới, tồn tại 143 năm (1802-1945).
Vậy là thế nào? Chẳng lẽ phong thủy hoàn tòan là một thứ tin mê tín dị đoan? Không, không thể vì vậy mà kết luận phong thủy một cách hồ đổ như thế được. Cái nước Mỹ của khoa học kỹ thuật tiến bộ nhất thế giới này cũng đang chạy theo Feng Shui (Phong thủy) của nền văn minh cổ Trung Hoa, có thua chi Việt Nam xưa và nay đâu, có điều họ chú trọng đến dương cơ hơn âm phần. Như vậy phải có một yếu tố gì khác làm cho độc chiêu do vua Quang Trung phát ra đã không có hiệu quả. Tôi chợt nhớ đến chữ Đức trong câu ca dao: Người trồng cây hạnh người chơi/ Ta trồng cây đức để đời về sau.
Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp nam tiến đó!
Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế?
moi-han-cua-vua-gia-long-voi-nha-tay-son-tan-bi-kich-lich-su-11-003443
Tượng Chúa Tiên Nguyễn Hoàng. (ảnh: Hội nhà văn TPHCM)
Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt.
Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh).
Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo. Theo thiển ý, có lẽ hiểu theo cách này mới giải thích được chỗ bất cập của phong thuỷ.
Chú thích:
(1) Mãi đến mùa hạ năm 1806 (Bính Dần) vua mới chính thức làm lễ lên ngôi Hoàng đế tại điện Thái Hoà.
(2) Có thể xem: La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine, hồi ký của Bissachère viết năm 1807 do Charles B. Maybon biên tập và xuất bản năm 1920, từ trang 118 đến trang 120 trong http://www.archive.org/stream/larelationsurlet00labi#page/n1/mode/2up
(3) Ngày 18 và 19/10/2008 tại Thanh Hóa có một cuộc hội thảo “Đánh giá lại chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn” được phóng viên ghi nhận là “một hội thảo lịch sử”, có lẽ vì phải chuẩn bị tài liệu đến 20 năm và tỉnh Thanh Hóa đã tài trợ gần một tỉ đồng VN để tổ chức, Có hai nhận xét quan trọng được ghi nhận:
“Theo GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, cần có nhận thức mới về nhà Nguyễn trong lịch sử dân tộc trên tinh thần “công minh lịch sử”.
“Tổng kết hội thảo, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khẳng định: Cuộc hội thảo lần này đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi không chỉ của giới khoa học mà còn của dư luận xã hội, chứng tỏ những nhận thức trước đây về vai trò của chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc theo hướng phê phán và phủ định đã không còn thỏa đáng nữa” (http://www.thethaovanhoa.vn/133N20081020034945468T0/danh-gia-lai-chua-nguyen-va-vuong-trieu-nguyen-mot-hoi-thao-lich-su.htm
(4) Vua Gia Long có một thanh gươm mang tên Qui Y. Sử ghi rằng thanh gươm này có tính ưa giết người (hiếu sát), Tối hôm nào gươm tự động thoát ra khỏi vỏ thì hôm sau thế nào cũng có người phạm tội bị chém bằng thanh gươm đó. Vua Gia Long ghét tính hiếu sát của gươm bèn đem qui y cửa Phật và đặt tên là Qui Y (Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu).
Nguồn: Nhà nghiên cứu lịch sử Võ Hương An(Khamphahue.com.vn)
Posted in Báo
Đăng bởi: Ngô Minh | 27.10.2016 Nguồn Quà tặng xứ mưa (Ngô Minh)-
MỜI MUA TỰ TRUYỆN “SÔ PHẬN KHÔNG ĐỊNH 


TÀI NĂNG, CUỘC SỐNG, VÀ SỰ LỰA CHỌN

(Diễn văn của nhà thơ Hữu Thỉnh,Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, khai mạc Hội nghị Đại biểu những người Viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX)

    Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam
Thay mặt Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, tôi trân trọng chào mừng và cảm ơn các vị khách quý, đại diện cho các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước, trân trọng chào mừng và cám ơn các nhà văn lớp trước đã đến dự Hội nghị, đem đến sự khích lệ và động viên to lớn đối với các tài năng trẻ của đất nước.
Tôi nồng nhiệt chào mừng các tác giả trẻ, đại biểu cho đội ngũ đông đảo những người viết văn trẻ gồm nhiều dân tộc anh em từ các vùng miền trong cả nước đã về dự cuộc gặp mặt văn học đầu đời đáng ghi nhớ của chúng ta.
Ở bất kỳ thời đại nào, cuộc sống cũng tìm cách sinh ra những nhà văn của mình. Đó là trí khôn của lịch sử, Hội nghị đại biểu những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX là hình ảnh thu nhỏ của một đội ngũ đông đảo những người viết văn trẻ đầy say mê và tự tin tham gia vào đời sống văn học trong những năm gần đây. Cuộc sống chào đón họ và có thể nói dành cho họ những điều kiện sáng tạo tốt nhất mà không thế hệ nào trước đó có được. Một không gian tinh thần rộng thoáng, một hiện thực vạm vỡ, mới mẻ đến ngỡ ngàng, một công chúng đông đảo mà dân trí được nâng cao từng ngày, tất cả tạo nên “một cánh đồng bất tận” cho các tài năng trẻ nảy nở và phát triển. Sau 30 năm đổi mới, đồng hành với các cây bút trẻ là một lớp bạn đọc trẻ đầy thông minh, sở hữu một vốn sống, sở thích, thị hiếu khác hẳn trước. Họ mong mỏi tìm thấy những đại diện tinh thần của họ, trông đợi và uỷ thác cho các nhà văn cùng thế hệ với họ nói lên thật đích đáng và say lòng người tất cả những gì đang làm nên diện mạo và cốt cách của xã hội ta hôm nay. Bất luận lý do gì, chúng ta không có quyền để bạn đọc phải thất vọng.

Thưa Hội nghị,
Theo cách nhìn văn hoá học, cuộc sống mà chúng ta đã đang trải nghiệm mang một ý nghĩa đặc biệt đó là sự chưa từng có. Võ công oanh liệt đời nào cũng có và rất đáng tôn vinh. Nhưng xây dựng một đất nước công nghiệp, hiện đại nhịp bước cùng nhân loại thì đây là lần đầu tiên trong lịch sử. Nó sẽ làm thay đổi đến tận gốc rễ số phận của cả cộng đồng đến mỗi cá nhân, tạo nên một bước ngoặt lịch sử về trình độ phát triển và bậc thang giá trị. Cấu trúc xã hội, quan hệ con người, nguyên tắc ứng xử, cho đến nhịp sống, ham muốn, sở thích sẽ hoàn toàn thay đổi. Trong xã hội hiện đại, lý trí sẽ can thiệp rất sâu vào mọi lĩnh vực. Thêm vào đó khoa học, công nghệ trở thành lực lượng sản xuất quan trọng bậc nhất. Xu hướng lý tính hoá đã đẻ ra những đứa con vô cảm là có thật. Dưới tác động của ba đặc điểm của xã hội hiện đại là thị trường, dân chủ và vai trò của cá nhân, mọi khuôn thước sẽ bị tháo tung ra, mở đầu cho một cuộc trở dạ về văn hoá vô cùng nhọc nhằn và phức tạp. Và trong lúc chuyển hoá từ cái cũ sang cái mới, bên cạnh những mảng màu tươi sáng và cảm động chúng ta thấy có những con dơi bay chập choạng săn lùng những lợi ích cá nhân, gây nhiễu loạn cho cả một tiến trình của dân tộc; cùng với nó là những nghịch cảnh và thảm cảnh từng giờ kêu gọi lương tâm con người và lương tâm nhà văn. Đạo đức trở thành một mối lo của toàn xã hội. Cuộc sống yên lành bị vẩn đục và đe doạ bởi mọi cái ác. Nhưng cho dù thực trạng có gai góc và phức tạp đến đâu, cũng không làm thay đổi xu hướng chính của cuộc sống là hướng thiện. Xã hội càng hiện đại thì lương tâm càng phải lên ngôi và văn học không bao giờ mất giá trị của nó. Do đó, chúng ta có thể nói rằng; tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thực chất là tạo nên một nền văn hoá mới, trong đó có sự phát triển cộng sinh giữa các giá trị truyền thống và phi truyền thống. Và đây mới thực là vấn đề mới mẻ nhất đồng thời cũng khó khăn, gian khổ, phức tạp nhất, nhọc nhằn nhất như người đi trên cát. Xây dựng các công trình công nghiệp nguồn vốn, công nghệ, thậm chí sách vở và chuyên gia, chúng ta có thể vay và thuê nước ngoài. Còn xây dựng văn hoá dân tộc thì chúng ta không thể vay mượn, dập khuôn ở bất cứ đâu hết. Do đó, tinh thần chỉ đạo hội nghị những người viết văn trẻ hôm nay không phải đơn giản là chuẩn bị nguồn bổ sung, kế cận cho văn học, mà thực chất là góp phần chuẩn bị bồi dưỡng, xây dựng một đội quân văn hoá đủ sức chuẩn bị cho nhân dân ta bước vào ngôi nhà của xã hội công nghiệp.
Đây là một bài học mang tính toàn cầu. Chúng ta đã từng thấy có những dân tộc có thể bách chiến bách thắng trên lưng ngựa, nhưng lại thấy bại trong xây dựng  cuộc sống văn hoá và xã hội có văn hoá ngay trên của quê hương của họ. Ngược lại có những quốc gia thua trận về quân sự nhưng lại có thể trở thành một cường quốc kinh tế và văn hoá. Sức sống dân tộc, ý chí tự cường đã giúp họ làm nên sự thần kỳ đó.
Thưa hội nghị,
Văn chương là câu chuyện của tài năng. Qua những sáng tác đầu tay của các anh chị em trẻ, chúng tôi thấy loé lên nhiều tín hiệu đáng mừng. Các bạn viết về cuộc sống ngày hôm nay thật tự nhiên, rộng thoáng và thông thuộc. Sẽ là một diễm phúc nếu thế hệ sau giỏi giang hơn các bậc cha anh của mình. Đó là vấn đề đạo lý, hơn nữa, một đòi hỏi lành mạnh của cuộc sống. Tài năng thực sự thời nào và ở đâu cũng luôn luôn hiếm và quý. Đó là câu chuyện muôn một. Tài năng là thiên bẩm, không thể ban phát, không thể vay mượn. Tài năng là sở hữu cá nhân, nhưng lại mang tính xã hội. Bởi ngay từ khi cầm bút, không một ai là không nghĩ đến việc muốn gửi một thông điệp nào đó đến người đọc. Tính chất xã hội của tài năng bắt đầu từ đó. Và nếu như tài năng thuộc về xã hội, thì  chính là xã hội giao cho mỗi nhà văn tự quản lý, tự nuôi dưỡng để phát triển tài năng của mình. Trong công việc lâu dài và khó khăn này, thiết tưởng lời khuyên sau đây của Alexandre Mercereau xứng đáng để chúng ta cùng tham khảo. Ông nói: “Làm cho hạt giống nảy mầm trong tâm hồn, ra bông, kết nụ, đơm quả; làm nảy nở bản năng thành cảm giác, cảm giác thành tư tưởng, tư tưởng thành đường lối xử thế; phát triển sự rung cảm, tăng gấp bội con người trong khía cạnh chân thiện mỹ, đấy là một thiên chức của những người cầm bút.”
Tôi được biết, là những người viết văn trẻ, điều khiến các bạn quan tâm nhất là đi tìm cái mới. Đây là một câu chuyện nghiêm túc và đầy trách nhiệm. Cũng cần nói thêm rằng, đi tìm cái mới không chỉ là mối quan tâm của riêng lớp trẻ, mà là nỗi khổ tâm của tất cả các nhà văn. Mối quan tâm ấy đeo đẳng suốt một đời. Vậy cái mới trong văn học là gì? Có cái mới của ngôn ngữ, nhịp điệu, của cách nhìn, cái mới của cấu trúc, của biểu cảm, của hình thức. Nhưng cái mới thực sự, và đáng đi tìm nhất là cái mới của tư tưởng nghệ thuật, triết lý nghệ thuật. Một tác phẩm cao hay thấp, chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp trước nhất là quan trọng nhất là ở tính tư tưởng. Có nhà văn phương Tây gọi văn học là triết học trong trạng thái loãng. Nội hàm của khái niệm “triết học trong trạng thái loãng” theo tôi hiểu là sự khái quát hiện thực bằng hình tượng nghệ thuật theo một tư tưởng thẩm mỹ nào đó. Chúng ta đã từng biết có biết bao tác phẩm gây dư luận ồn áo trong một lúc, nhưng nó nhanh chóng rơi vào quên lãng vì sự thấp kém về tư tưởng. Giải phóng mọi nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là mơ ước ngàn đời của nhân dân ta, đồng thời đó cũng là khát vọng cháy bỏng của những người cầm bút. Đó là tiền đề để có một cuộc sống “Người với người sống để yêu nhau”. Muốn nâng cao tính tư tưởng của tác phẩm, nhà văn phải có lý tưởng và khát vọng. Không có lý tưởng, không có khát vọng lớn thì mọi sự khéo tay tỉa tót đều trở chẳng đi tới đâu.
Cái mới trong văn học còn là cái chưa từng có. Cuộc sống xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cung cấp cho nhà văn biết bao chất liệu mới, vô giá mà không một sự tưởng tượng nào tạo ra được. Do đó, đi tìm cái mới trước hết là đi vào đời sống, hoá thân vào đời sống, đem tài năng mà chuyển hoá chất liệu của đời sống thành những hình tượng sống động, khoẻ mạnh với sức truyền cảm mãnh liệt. Thiếu lý tưởng, thiếu khát vọng, thiếu vốn sống, chạy theo mốt, thời thượng và chiều nịnh thị hiếu thấp kém cùng lắm chỉ có thể đẻ ra những đứa con tinh thần xanh xao thiếu máu, không để lại dấu ấn gì và cũng không cần thiết cho ai. Các nhà văn lớp trước, trải qua hai cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc, để lại cho chúng ta bài học sâu sắc, có thể coi như một bí quyết thành công, đó là sự nhập cuộc và dấn thân hết mình vào sự nghiệp vĩ đại của nhân dân, đúng như nhà thơ Xuân Diệu đã nói “tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi”. Do vậy đi vào đời sống là phương hướng và hành động sống còn của mỗi chúng ta. Ngay cả lý tưởng, khát vọng cũng cần được kiểm nghiệm, thử thách trong đời sống. Chuẩn bị về vốn sống, vốn văn hoá và với ngọn lửa khát vọng không bao giờ nguội lạnh, đó là bí quyết giúp cho một nhà văn có thể đi được lâu bền trên hành trình vô cùng nhọc nhằn của công việc sáng tạo.
Trong xu thế mở cửa, rộng thoáng đã sẽ có rất nhiều trào lưu nghệ thuật của thế giới được giới thiệu tại nước ta, dưới nhiều hình thức. Chúng ta hoan nghênh những cố gắng tạo ra các cửa sổ để nhìn ra thế giới. Chúng ta trân trọng đón lấy các cơ hội mà sự nghiệp Đổi mới đem lại. Tuy vậy, chúng ta tiếp thu thế giới phải có tâm thế chủ động và phải đứng vững trên mảnh đất của văn hoá dân tộc để tìm cho được các tinh hoa của nhân loại và quyết tránh đi vào vết xe đổ trong bãi thải văn hoá của thế giới. Quan tâm đổi mới hình thức là cần thiết để khắc phục sự nhàm chán và cũ kỹ. Nhưng, bẻ một cặp thơ lục bát ra làm mấy dòng, viết một mạch không chấm câu, hoặc miêu tả tỉ mỉ những cảnh sau màn the dễ hơn nhiều là tiếp biến các tinh hoa đích thực của thế giới để vươn tới đỉnh cao. Các trường phái không cứu được tài năng. Trong văn học, cái còn lại cuối cùng là tư tưởng, tình cảm và nghệ thuật được nung chảy để trở thành các hình tượng nghệ thuật có sức ám ảnh khôn nguôi. Nhà thơ Tố Hữu đã từng nói:Thơ hay làm cho người ta quên thơ đi chỉ còn cảm thấy có tình người. Trong văn học cuối cùng là một chữ Hay.
Chúng ta hoan nghênh các cây bút phê bình trẻ, trong đó có nhiều cây bút nữ có mặt trong Hội nghị này. Thiên bẩm trao cho họ cái nhiệm vụ vô cùng khó khăn là thẩm định và hướng dẫn các giá trị. Ở đây có sự kết tinh giữa năng khiếu và học vấn. Đọc để nắm cho được xu hướng, dòng chảy, diện mạo của những người cùng thế hệ. Đọc, học hỏi để làm chủ nền văn học dân tộc. Đọc để đủ sức đưa ra các nhận định, những phẩm bình xác đáng trong sự tương sánh với thế giới. Tất cả, quả là một núi công việc với biết bao công phu bền bỉ đáng khâm phục. Nhận rõ vai trò quan trọng của lý luận phê bình những năm qua, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã liên tiếp tổ chức nhiều lớp tập huấn dành riêng cho các cây bút lý luận, phê bình trẻ. Các lớp này sẽ được tổ chức đều đặn và một học viên có thể tham gia nhiều lớp trong nhiều năm. Từ diễn đàn này, tôi bày tỏ sự vui mừng và trân trọng chào đón các cây bút lý luận, phê bình trẻ, nguồn bổ sung vào khoảng trống của lý luận, phê bình hiện nay.
Thưa Hội nghị,
Hội Nhà văn Việt Nam chọn mùa Thu với bầu trời của Cách mạng tháng Tám và hương hoa sữa thơ mộng để mời đại biểu viết văn trẻ của các miền về họp mặt tại thủ đô Hà Nội. Trong văn học không ai làm thay được cho ai, không ai thay thế được ai. Nhưng tập hợp, đoàn kết và cùng trao đổi nghề nghiệp luôn luôn là một việc rất cần thiết. Các bạn đã có những thành công bước đầu rất đáng khích lệ. Từ hôm qua trở về trước, các bạn sống và làm việc ở giai đoạntự phát hiện ra chính bản thân mình. Từ hôm nay trở về sau, các bạn bước sang chặng đường mới, chặng đường bổ sunglàm đầy và vắt kiệt mình để có những tác phẩm xứng đáng với đất nước, với nhân dân và xứng đáng với thời đại của mình. Với ý nghĩa đó, tôi xin thay mặt Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khai mạc Hội nghị đại biểu những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX. Chúc hội nghị thành công.
Hà Nội, 27/9/2015
Posted in Diễn đàn Nguồn Quà tặng xứ mưa ( Ngô Minh)