Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

KẺ SĨ KINH BẮC

nday, April 02nd, 2017 | Author: 

Triết gia Trần Đức Thảo và Nhà thơ Hoàng Cầm

 29.03.2017

++++++++

Kinh Bắc có hai người con kiệt xuất, cùng thời nhưng cuộc đời đầy tai ương bất trắc. Có thể hai người này là hai vết khắc sâu đậm của văn hóa Việt Nam hiện đại. Nghiệt ngã thay, cả hai ông đều là nạn nhân của những gì các ông theo đuổi; bị truy đuổi đến tận cùng bởi tài năng xuất chúng; bởi trung thành với chính mình. Cuối đời các ông đều được tặng thưởng những phần thưởng cao quý: Trần Đức Thảo được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội, Hoàng Cầm được giải thưởng nhà nước về Văn học Nghệ thuật.
1.Triết gia Trần Đức Thảo. Với con người này, mình chưa được tiếp cận nhiều với những gì ông viết vì sách của ông rất ít phổ biến mà chắc có phổ biến mình cũng rất khó tiếp cận bởi lĩnh vực nghiên cứu của ông không phải giành cho tất cả mọi người. Chỉ biết được cuộc đời đầy cay đắng của ông qua những gì người ta viết về ông.
Giáo sư Văn học Nguyễn Đình Chú đã đánh giá về ông: “là một lưu học sinh đã làm vẻ vang cho tổ quốc trên đất Pháp với tấm bằng thủ khoa thạc sĩ triết học đến nay chưa có người thứ hai; là triết gia duy nhất của Việt Nam trên trường quốc tế với những hành động, tác phẩm nổi trội, có ý nghĩa phát triển chủ nghĩa Mác theo hướng “duy vật biện chứng nhân bản” và người khai sinh bộ môn Lịch sử tư tưởng triết học cho giáo dục Việt Nam.”
Giáo sư Trần văn Giàu khẳng định: “Ở Việt nam, người duy nhất được là nhà Triết học, chỉ có Trần Đức Thảo thôi”. Nhà văn hóa Bùi Nam Sơn cho rằng: “Đó là một trong những người Việt hiếm hoi được học hành đến nơi đến chốn về triết học và cho thấy người Việt mình cũng có thể tiếp cận rất gần với triết học thế giới”.
Sinh năm 1917, học sinh trường Trung học Pháp nổi tiếng nhất Đông dương Albert Sarraut. Đạt giải nhì cuộc thi Triết học các trường Trung học toàn quốc Pháp. Nhận học bổng phủ Toàn quyền Đông Dương học tại Pari. Đậu thủ khoa Thạc sĩ triết học thành người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đậu Thạc sĩ Triết học tại Pháp.
Là một học giả được đào tạo bài bản của nền giáo dục hàng đầu thế giới, lại rất có tiếng tăm hứa hẹn một tương lai sán lạn của ông trên đất Pháp. Tham gia Hội nghị Fontainebleau, Bác Hồ đã tìm gặp và đề nghị Trần Đức Thảo về nước phục vụ cách mạng, năm 1952, ông đã xung phong về chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến.
Năm 1955 ông trở thành Giáo sư Triết học và Phó Giám đốc đại học Văn khoa Hà Nội, Chủ nhiệm khoa Lịch sử Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Năm 1957, ông bị quy tội tham gia Nhân văn giai phẩm, một phong trào đấu tranh vì tự do dân chủ cho văn hóa văn nghệ vì công bố một số bài báo bàn về tự do dân chủ. Bị giáng chức, tước quyền giảng dạy, Tước biên chế nhà nước (thời đó coi như hết đường sống), bị cắt đứt mọi mọi mối liên hệ với cuộc sống, bị cô lập với đồng bào và đồng chí. Một học sinh của ông kể lại: “việc gặp thầy Trần Đức Thảo từ nước Pháp tư bản trở về là rất dễ bị quy tội như bên Trung Quốc trong Đại Cách mạng Văn hoá. Gặp thầy lủi thủi đạp chiếc xe đạp mini cộc cạch cũng đành làm ngơ, nhiều khi không dám nhìn”. Một học trò khác là Giáo sư Nguyễn Đình Chú kể: “Hàng ngày vẫn gặp Thầy lên xuống ở cầu thang mà tôi cứ phải cúi mặt xuống không dám chào Thầy vì sợ liên lụy, vì xấu hổ về tội phản Thầy. Chỉ một Đoàn Mai Thi là người duy nhất không sợ gì cả vẫn thường xuyên lui tới săn sóc Thầy trong hoạn nạn, để lại một điểm son về đạo tôn sư trong lòng chúng bạn.”. Còn Trần Như Tảng kể lại rằng: “Ông không bị tù hay hành hạ thân xác, nhưng công an bao vây, cô lập ông không cho ai tiếp xúc…Nếu ông Thảo tiếp xúc với ai, chẳng hạn một người bạn trên đường phố, thì người đó sẽ bị bắt giữ để điều tra. Bề ngoài xem ra triết gia sống cuộc đời bình thường. Nhưng thực tế ông sống như Robinson Crusoe, hoàn toàn cô độc, mặc dầu có nhiều người ở xung quanh. Ngay họ hàng thân thích cũng không được phép nói chuyện với ông. Đối với một trí thức như vậy là một sự tra tấn dã man.”
Hành trình cuộc đời đầy cay đắng của ông có thể gom lại trong chuyện kể chết cười của bà cụ hàng nước được nhà văn Phùng Quán ghi lại:
“Dễ có đến hai năm tôi không đến khu tập thể Kim Liên. Lần này trở lại, tôi ngạc nhiên thấy cái quán của bà cụ móm dưới gốc xà cừ, mà mười năm trước tôi thường ghé hút thuốc uống nước, vẫn còn nguyên ở đó. Tôi vào quán uống chén rượu thay bữa ăn sáng. Bà cụ đang rôm rả nói chuyện với mấy anh xích lô, chắc là những khách quen… “Con cháu nhà tôi nó vừa sắm được cái ti vi màu nội địa. Tối hôm kia, bắt dây dợ xong, bật lên thấy đang chiếu cánh tang lễ một ông tên là gì gì Thảo đó. Người ta giới thiệu cái ông Thảo này là nhà triết học nổi tiếng thế giới, làm đến sáu, bảy chức, chức nào cũng dài dài là, chắc là toàn chức to được tặng huân chương Độc lập hạng hai. Ông ta sang tận bên Tây mà chết, cả Tây cả ta đều làm lễ truy điệu, toàn bộ cấp cao, có danh giá đến dự… Trong khu nhà B6 đằng kia cũng có một ông tên Thảo, nhưng lôi thôi nhếch nhác quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cư ỡi cái xe đạp “Pơ-giô con vịt” mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc? Mặt cứ vác lên trời, đạp xem thinh thoảng lại tủm tỉm cười một mình như anh dở người… Một buổi trưa nắng chang chang, ông ghé vào quán uống cốc nước chè xanh, tôi hỏi: “Ông đi đâu về mà nắng nom vất vả thế… ế… ế…”. Ông nói: Lên chợ Hàng Bè mua củi đun. Tôi hỏi: Thế củi ông để đâu cả rồi? Ông quay lại nhìn cái “poócbaga”, mặt cứ ngẩn tò te. Chỉ còn có sợi dây buộc! Củi ná rơi đâu hết dọc đường, chẳng còn lấy một que… Nghĩ cũng tội, già ngần ấy tuổi đầu mà phải nấu lấy ăn, không vợ, không con… Đấy, cũng là Thảo cả đấy, mà Thảo một đằng thì chết danh, chết giá, còn Thảo này thì sống cơ cực trần ai”. Bà cụ chép miệng thương cảm: “Một vài năm nay không thấy ông đạp xe ngang qua đây, dễ chết rồi cũng nên…”.
Tôi uống cạn chén rượu, cười góp chuyện: “Cái ông Thảo mà bà kể đó chính là cái ông Thảo người ta chiếu tang lễ trên ti vi…”. Bà già bĩu môi: “Ông đừng tưởng tôi già cả mà nói lỡm tôi!”.

2. Nhà thơ Hoàng Cầm. Với nhà thơ Hoàng Cầm, mình bị mê hoặc bởi những câu thơ lộng lẫy của ông. Nhưng những câu thơ đi vào tâm khảm đầu tiên, thuộc ngay tắp lự là:
“Bên kia sông Đuống
Ta có đàn con thơ
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm
Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Bóng giặc dày vò những nét môi xinh”.
Từ những câu thơ đó, mình bắt đầu hành trình đọc thơ ông cho đến hôm nay và chắc chỉ dừng lại khi không đọc được nữa.
Khó có ai mà quê hương thấm vào máu như ông, văn hóa Kinh bắc đã hóa trầm tích trong mỗi câu thơ ông, nó cứ bay lên lấp lánh, lộng lẫy với những Sông đuống, Mưa Thuận thành, Cổ bài tam cúc…:
“Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”
Sinh ra ở Thuận Thành Bắc Ninh, Tốt nghiệp tú tài toàn phần, 8 tuổi đã có thơ đăng báo. Năm 1944 ông đã tham gia Việt Minh, Cách mạng Tháng Tám, về Hà Nội xây dựng đoàn Kịch Đông Phương, phục vụ kháng chiến.
Năm 1947, tham gia Vệ quốc quân, thành lập đội Tuyên truyền Văn nghệ, năm 1952, ông được cử làm Trưởng đoàn Văn công Tổng cục chính trị. 1955 về công tác tại Hội văn nghệ, tham gia thành lập Hội nhà Văn Việt nam. Cũng như nhiều nghệ sĩ tài năng thời đó, ông bị kết tội tham gia Nhân văn gia phẩm bị tước văn tịch.
Đầy là cuộc sống của Nhà thơ sau án phạt: “Bề ngoài, Hoàng Cầm chịu một hình phạt tương đối nhẹ là khai trừ một năm khỏi Hội Nhà văn, cho dù ông là một yếu nhân của phong trào với vai trò chủ trương hai tờ Giai phẩm và Nhân văn, khích lệ các văn nghệ sĩ tham gia, cổ vũ Văn Cao “vào cuộc” (với thi phẩm “Anh có nghe thấy không?”), chủ động in “Nhất định thắng” và can đảm bênh vực Trần Dần, v.v…
Tuy nhiên, trong thực tế, một bản án vô hình đã treo lơ lửng trên đầu ông, khiến thi sĩ lâm vào một cuộc trầm luân kéo dài 3 thập niên: không được sống bằng ngòi bút, không được in ấn tác phẩm, người đời xa lánh… Như hồi tưởng của nhà thơ: “Nội dung kỷ luật lúc đầu thì chỉ như thế thôi. Nhưng rồi cái kỷ luật đó nó kéo quá dài. (…) riêng tôi thì cũng sáng tác tập “Về Kinh Bắc”. (…) Không hiểu lý do làm sao, nhưng đưa đến nhà xuất bản nào hay tòa báo nào cho nó đăng thì đều bị từ chối.”
Năm 1982, bị bắt, bị tống giam 18 tháng vì tập thơ “Về kinh Bắc” bằng “ ‘Lệnh bắt và khám xét khẩn cấp’ vì tội ‘lưu truyền văn hóa phẩm phản động ”, tập thơ đậm nhất về vùng văn Hóa Kinh Bắc . Ra tù ông bị bệnh tâm thần. Cuộc sống được tự ông ghi lại: ““Bà vợ tôi đã qua đời trong cảnh vô cùng nghèo đói, phải chạy ăn từng bữa một, từng dúm gạo một. Tiền thức ăn thì cũng không có, bữa cơm nào hai vợ chồng cũng phải nhịn bớt đi, nghĩa là đáng lẽ mình ăn ba bát, ăn có một bát, để nhường cho các con ăn.
Bà vợ tôi chết vào những ngày như thế, mà lại chết vào năm 85 ấy, lúc tôi đang bị cái bệnh tâm thần, đang ở cái dạng trầm uất và hoảng loạn như thế. Vì bà ấy phải chạy từng ngày bữa ăn của gia đình. Gia đình thì đông. Mỗi một tháng lại phải lên trình diện một lần mới được người ta cấp cho 12 cân gạo. Rồi lại phải đi lên sở lương thực để lấy giấy chứng nhận nọ kia, rồi bấy giờ mới lại sang phòng tài chính để thanh toán tiền, xong rồi xuống chỗ bán hàng, xếp hàng chờ đợi.
Tóm lại là muốn được 12 cân gạo, bà vợ tôi vất vả đến mức là nó lên một trận huyết áp rất đột ngột, chỉ mới có từ chập tối hơi sôn sốt, rồi bà ấy đi nằm, mà giữa mùa nực, bà ấy thấy có cái gì ren rét, tôi đã phải đắp cho bà ấy một cái chăn lớn. Ðến 4 giờ sáng thì người cứng ra và liệt nửa người. 9 giờ thì đem đi cấp cứu và đến chiều hôm sau qua đời.”
Và cái chứng tâm thần mà theo ông ” cũng không có gì ghê gớm lắm” hành hạ ông:
“Thật ra thì cũng không có gì là ghê gớm lắm, cũng không xé quần, xé áo, không đi ra ngoài đường, không chửi bới hay làm những gì ầm ĩ cả, bởi vì chỉ là hoảng loạn thôi. Hoảng loạn một cách hết sức lặng lẽ. Ví dụ nghe một tiếng còi ô-tô và một cái gì như là phanh ô-tô rít lên ở ngoài cửa – mà lúc bấy giờ tôi ở tít tận trong nhà cơ – nhưng khi nghe thấy như thế, vào lúc độ gần nửa đêm chẳng hạn, thì tự nhiên tôi co rúm lại và hết sức sợ hãi.
Nó như là một cái bản năng đấy, tìm chỗ trốn. Quả nhiên là tôi đã có nhiều lần chui xuống gầm giường vì những hoảng loạn như thế. Hay nghe tiếng giày cộp cộp và thoáng thấy một bóng áo, như áo quân đội hay áo cảnh sát hay của một người thương binh nào đó, chỉ cần một cái bóng, một cái màu quần áo thôi, thì tôi cũng hoảng rồi. Người ta gọi là bệnh hoảng loạn. Chứ sự thực thì lúc ấy chẳng có ai dọa nạt, chẳng có ai làm gì mình cả.”
Hai con người, hai chiến sĩ, hai nhà văn hóa. Đã đi trọn cuộc đời vì niềm đam mê, thao thức về trí tuệ và văn hóa. Kết cục khó có thể nói bi đát hơn nhưng nhờ thế hai ông đã để lại cho Việt Nam những hình ảnh của nhà văn hóa đích thực, những kẻ sĩ đích thực trong hoàn cảnh nhiễu nhương. Là hi vọng cho sự tồn tại nhân cách Việt, con Người Việt.

Nguồn: Nguyễnđăng hưng blog

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

SUY NGHĨ VỤN VỀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY


Mới đây VTV đưa tin có 40 móng nhà được xây ở bán đảo Sơn Trà, đây vốn là khu rừng đặc dụng thuộc diện rừng cấm không chỉ vì sự bảo tồn thiên nhiên còn vì lý do an ninh. VTV cũng đưa tin, rừng ba bể, rừng Tây Nguyên bị chặt phá. Trước đây, nghe những thông tin này, mọi người bức xúc lắm, phẫn nộ lắm là chủ đề của nhiều cuộc gặp gỡ, giờ đây người dân không mấy quan tâm đến nữa, bởi người ta đã quen, đã nhàm. Cũng có ai đó còn nghĩ tới sự tồn sinh của dân tộc không khỏi đau xót. Thực ra rừng Việt Nam về cơ bản không còn là rừng vàng nữa, đã bị khai thác, bị tàn phá đến kiệt quệ. Chẳng phải riêng rừng đâu, sông , biển, mỏ,,, đất đai cũng vậy.
Môi trường, môi sinh ở Việt nam đang bị tàn phá, bị hủy hoại nghiêm trọng bởi con người. Hơn bốn ngàn năm, dẫu đất nước bao phen dâu bể, rừng vẫn còn là rừng vàng, biển bạc, song chỉ với vàn chục năm nay...điều ấy chỉ còn trong cổ tích. Vài chục năm nữa con cháu người Việt sẽ chỉ được nhìn thấy thú rừng qua tranh ảnh mà thôi. Nỗi sợ hãi môi trường bị hủy hoại phải là nỗi quan tâm lớn nhất của bất kỳ quốc gia nào.
Tại sao con người không thể sống hài hòa với thiên nhiên, phát triển môi trường, môi sinh hướng tới phát triển bền vững?
Ở Việt Nam môi trường bị hủy hoại bởi cách săn bắn,khai thác tận diệt. Ví dụ: dùng điện đánh cá, dùng lưới quét chăng ngang sông vơt lên từng con cá con, chặt phá hàng ngàn Ha rừng ..dùng hóa chất trong trồng trọt, chăn nuôi; hoặc do các xả thải không qua xử lý từ các nhà máy ra môi trường.
Vì sao con người lại có cách hành xử như vậy, có nhiều nguyên nhân. Có thể do chính sách công hữu đất đai...đã khiến không ai làm chủ thực sự; Trong khi các cơ quan chức năng không thực hiện đúng chức trách, thậm chí tiếp tay cho phá hoại dẫn đến tình trạng ai lấy cũng được.Với dân miếng ăn là trời, có thể một số người không còn kế sinh nhai nào khác nên buộc chọn cách đánh bắt, khai thác kiểu tận diệt như đã nêu. Sự phát triển kỹ thuật công nghệ giúp cho con người thêm nhiều phương tiện khai thác, đánh bắt, trong khi văn hóa không song hành tương xứng có thể cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự hủy hoại môi trường.
Vậy nên song hành với biện pháp giáo dục, nâng cao dân trí, văn hóa ứng xử của cộng đồng với môi trường, giải pháp khả dĩ hiện thời vân là biện pháp chế tài để các cơ quan chức năng thực thi đúng nhiệm vụ của mình, kịp thời phát hiện và ngăn ngừa các hành vi xâm hại môi trường. Nhà nước cần có những điều khoản luật nghiêm cấm cách đánh bắt…khai thác tài nguyên kiểu tận diệt.
Vấn đề cuối cùng vẫn là sự hữu hiệu trong công tác quản lý của cơ quan chức năng đối với môi trường. Cần phải hành động ngay trước khi quá muộn.
Hưng Yên tháng 4 năm 2017
LikeShow more reactions

SÁNG CÔN SƠN


Vinh Hồ
Sáng Côn Sơn, mưa bụi lất phất bay
Rừng núi sương giăng, đỉnh trắng mây.
Nghe đâu đây tiếng thơ hào sảng.
Ức Trai ơi! Nhân nghĩa thắng hung tàn.
Chí lớn, yêu dân, lo vận nước
Bình ngô khắc khoải Chiếu Lam Sơn
Phò chúa dựng lên cơ nghiệp lớn
Thơ người mãi vọng tháng năm sau.
Ôi lịch sử tiếng gươm khuya khô lạnh
Nghe trong đêm máu chảy rơi đầu.
Vụt tắt Sao khuê, lòng dân ai oán
Đố kỵ, nhỏ nhen che lấp mặt trời.
Chặt hết trúc Lam Sơn không tả hết đau thương
Đất nước này ly tao bao cuộc,
Tự trói mình trong chủ thuyết ngoại lai
Gióng mãi tiếng hận thù chia rẽ.
Đâu còn nét tình khôi trong lành ban sớm
Đâu cánh cò xưa xanh mát làng thôn
Những con người hiền từ chất phác.
Cho thơ bay thanh khiết trong ngần.
Rừng Côn Sơn!
Đâu cây tùng, cây bách
Giữa trời reo ngạo nghễ uy phong
Trên mặt hồ khói sương bảng lảng
Có thoáng người viết Cáo bình ngô
Người ngồi đây trầm tư mặc tưởng
Đau đáu thương đời trong kiếp nghiệp bể dâu.
Hưng Yên tháng 3 năm 2017.

Ba làn sóng tự sát trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc

Nguồn: Ngominhblog

 Có phân tích, trong hơn 60 năm Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) xây dựng chính quyền đã xuất hiện ba “làn sóng tự sát”: lần đầu từ 1949 – 1952 với làn sóng tự sát của giới tư bản dân tộc; lần thứ hai từ 1957 – 1967 với làn sóng tự sát của giới trí thức; lần thứ ba là từ 2012 đến nay với làn sóng tự sát của quan chức.
Ngày đầu tiên của năm 2017, ông Chu Vạn Lý (Zhu Wanli), Phó Thị trưởng thị xã Thái Thương tỉnh Giang Tô bị thiệt mạng vì “té ngã từ trên tòa nhà cao tầng”. Cùng với sự kiện này, có nhận định chỉ ra những năm gần đây “phong trào quan chức tự sát” là một trong những hiện tượng kỳ lạ, có lẽ chỉ xuất hiện ở Trung Quốc Đại lục.
Ngày đầu tiên của năm 2017, ông Chu Vạn Lý, Phó Thị trưởng thị xã Thái Thương tỉnh Giang Tô bị thiệt mạng vì bị “ngã” từ trên nhà cao tầng.
Ngày đầu tiên của năm 2017, ông Chu Vạn Lý, Phó Thị trưởng thị xã Thái Thương tỉnh Giang Tô bị thiệt mạng vì bị “ngã” từ trên nhà cao tầng. (Ảnh: internet)

Làn sóng tự sát của giới quan chức

Khoảng 9:27 ngày 1/1/2017, tại một tòa nhà thuộc khu khai phá thành phố Ninh Ba, ông Chu Vạn Lý, Phó Thị trưởng thị xã Thái Thương tỉnh Giang Tô đã ngã từ trên lầu xuống bãi đỗ xe, khi xe cấp cứu đến hiện trường thì ông Chu Vạn Lý đã qua đời.
Truyền thông Trung Quốc đưa tin, gần đây tình hình sức khỏe của ông Chu không tốt, không chỉ rõ nguyên nhân quan chức này bị ngã lầu.
Tỉnh Giang Tô nơi ông Chu Vạn Lý công tác là quê quán của ông Giang Trạch Dân, nằm trong mục tiêu thanh trừng trọng điểm của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Trung Quốc.
Nhà bình luận chính sự Trần Lâm (Chen Lin) cho rằng, hình thế mục tiêu chống tham nhũng hiện nay đã khiến những quan chức hủ bại đêm đêm nằm thấy ác mộng, còn ban ngày thì họ luôn sợ cơ quan an ninh tìm đến, suốt ngày lo lắng thảm họa sẽ rơi vào đầu mình.
Theo thống kê, tính từ thời điểm bắt đầu phát động chống tham nhũng vào tháng 11/2012 đến cuối tháng 7/2016, chỉ tính số liệu do chính quyền Trung Quốc công bố đã có 1235 trường hợp quan chức tự sát. Sự việc ông Chu Vạn Lý tự sát là trường hợp đầu tiên trong năm 2017.
Bà Vương, một quan chức trong hệ thống thuế vụ ở Thành Đô – Tứ Xuyên cho biết, do những quy tắc ngầm trong quan trường của thế lực hủ bại kéo thêm ngày càng nhiều quan chức rơi vào sa đọa, vì họ phải tìm chỗ dựa và tiền đồ chính trị. Một khi có vụ án tham ô bị phanh phui ra thì những quan chức cơ sở dễ trở thành vật hy sinh, nếu họ dám khai báo sự thật thì có thể người thân sẽ bị trả thù.
Có nhận định, ở Trung Quốc hiện nay, việc tra tấn ép cung đã trở thành phổ biến, nếu không nhận tội thì những quan chức bị thanh trừng phải chịu cực hình hoặc bị đày đọa về tinh thần, sống không bằng chết.
Ông Lý Thiên Tiếu (Li Tianxiao), Tiến sĩ Chính trị học Đại học Columbia (Mỹ) cho biết, trong tình hình quan trường Trung Quốc hiện nay, hiện tượng quan chức tự sát sẽ chưa dừng lại. Nguyên nhân họ tự sát là do quá căng thẳng vì bầu không khí khủng bố trong quan trường kéo dài nhiều năm qua.

Hai bên dưới nhà cao tầng Thượng Hải không ai dám đi lại

Một người đang sống khỏe mạnh lại bất ngờ tự sát, phía sau thảm cảnh này là gì? Ông Trần Lâm cho rằng, do thể chế chính trị tạo ra. Ông nói: “Làn sóng tự sát ở Trung Quốc cũng đã từng xảy ra trong quá khứ, trước đây cũng đã xảy ra hai lần ‘làn sóng tự sát’: làn sóng giới tư bản dân tộc tự sát và làn sóng giới trí thức tự sát”.
Làn sóng tự sát đầu tiên xảy ra trong cuộc vận động “tam phản ngũ phản” sau khi ĐCSTQ bắt đầu xây dựng chính quyền.
Nghe nói, tại Thượng Hải vào thời gian đó không có ai dám đi lại ở hai bên nhà cao tầng vì sợ bị người nhảy lầu rơi trúng đè chết. Cùng phong trào “chống trốn thuế lậu thuế”, nhiều nhà tư bản vì làm ăn thua lỗ không thể nộp được “thuế”, họ muốn chết nhưng không thể nhảy sông Hoàng Phổ, e bị cho rằng bỏ đi Hồng Kông làm liên lụy đến người nhà, vì thế họ chỉ còn cách nhảy lầu để chính quyền trông thấy thi thể.
Trước thảm cảnh vô số thị dân “phải tự sát”, ông Trần Nghị, Thị trưởng Thượng Hải khi đó mỗi lần nghe báo cáo thường hỏi: “Hôm nay có bao nhiêu lính nhảy dù?” Ý nghĩa thực tế trong câu hỏi này là có bao nhiêu thương nhân nhảy lầu.
Cùng “cơn mưa máu” của phong trào cải cách ở Trung Quốc, trong số những người xem thường mạng sống và không chịu khuất phục, rất nhiều nhà tư bản dân tộc nổi tiếng Trung Quốc đã tự sát.
Trong công bố 100 thương hiệu lâu đời ở Trung Quốc năm 2016, đứng đầu bảng xếp hạng là thực phẩm Quan Sinh Viên (Guan Sheng Yuan). Người sáng lập thương hiệu này là ông Tiển Quan Sinh, một doanh nhân dân tộc, khởi nghiệp từ bán hàng rong vỉa hè ở Thượng Hải, sau đó trở thành tổng giám đốc của một trong bốn công ty thực phẩm lớn nhất Thượng Hải. Trong vận động “ngũ phản” năm 1952 ông đã bị vu oan phạm “ngũ độc”, sau khi bị làm nhục và ép cung, ông đã nhảy lầu tự tử, chết ngay trên đường phố Nam Kinh.
Ông Lư Tác Phu (Zuofu Lu, 1893 – 1952) là một doanh nhân yêu nước, người sáng lập công ty Dân Sinh, người đi tiên phong trong ngành vận tải đường biển Trung Quốc. Năm 1938 đã bất chấp oanh tạc của Nhật để hỗ trợ quân Trung Quốc rút lui. Trong thời kháng chiến, công ty Dân Sinh đã có nhiều đóng góp cho quân đội Trung Quốc. Năm 1950, ông Lư Tác Phu mang nhiều tàu về Trung Quốc Đại lục, sau đó bị ĐCSTQ vu tội tham ô, bị làm nhục phải uống thuốc độc tự sát.
Trong cải cách ruộng đất ở nông thôn, nhiều thân hào nông thôn mất mạng vì bị vu tội chống cách mạng, họ ra đi để lại vợ góa con côi tiếp tục bị hành hạ trong “mưa gió” đấu tranh giai cấp, nhiều người không chịu khuất phục đã chọn cách tự sát.
Trong thời đầu xây dựng chính quyền, ĐCSTQ hủy chế độ tư hữu, vì thế đã tước đoạt tài sản của các thân hào nông thôn và nhà tư bản dân tộc, hành hạ tra tấn thể xác, cắt đứt mạch văn hóa và tinh thần dân tộc mà họ thừa kế.

Giới trí thức tự sát

Làn sóng tự sát thứ hai rơi vào giới trí thức với con số người tự sát khủng khiếp, chủ yếu là các chuyên gia, học giả, giáo sư, nhà văn.
Về hệ thống tổ chức, người tự sát tập trung chủ yếu trong các trường cao đẳng và đại học, cơ quan văn học và nghệ thuật, những hệ thống này nằm trong mục tiêu chính của phong trào “Cách mạng Văn hóa” và “chống hữu khuynh”. Nguyên nhân chính khiến họ tự sát vì nhân phẩm bị làm nhục trong bức hại chính trị.
Ngày 23/8/1966, nhà văn Lão Xá bị đưa ra đấu tố. Ngày hôm sau ông nhảy xuống hồ Thái Bình thuộc quận Tây Thành – Bắc Kinh tự sát. Người ta nói rằng sau này có thêm nhiều người nhảy hồ Thái Bình tự sát theo, tuy nhiên danh tính của họ không ai biết.
Trong làn sóng tự sát này có nhiều cặp vợ chồng quyết định cùng đi xuống suối vàng. Vợ chồng dịch giả Phó Lôi (Fu Lei) nổi tiếng đã không thể chịu nổi sự hành hạ của Hồng vệ binh, cả hai cùng tự sát vào ngày 3/9/1966, ba ngày sau thì vợ chồng giáo sư Dương Gia Nhân (Yang Jiaren) thuộc Học viện Âm nhạc Thượng Hải cũng tự sát qua đời, sau đó đến ngày 9/9 thì giáo sư Lý Thúy Trinh (Li Cuizhen) chủ nhiệm khoa đàn dương cầm cũng tự sát qua đời.
Trong số những trí thức tự sát còn có 4 Ủy viên Ban Quản lý giáo dục, gồm: Trương Tôn Toại (Zhang Sunsui, 1915 – 1969), Nhiêu Dục Thái (Rao Yutai, 1915 – 1969), Tạ Gia Vinh (Xie Jiarong, 1898 – 1966), Dương Phi Phàm (Yang Feifan, 1897 – 1958), trong đó Nhiêu Dục Thái và Tạ Gia Vinh từng là Viện sĩ Viện Nghiên cứu Trung ương. Ngoài ra còn có những đại sư Quốc học như Hùng Thập Lực, Chu Dư Đồng.
Nhiều trí thức tự sát đang ở thời điểm trí lực sung mãn, đỉnh cao sự nghiệp, độ tuổi vào khoảng 45 – 55. Đa số những người tự sát là những nhân cách ưu tú của xã hội, là những trí thức xuất sắc trong lĩnh vực của họ.
Nhà bình luận thời sự Tạ Vịnh (Xie Yong) cho rằng, trong một quốc gia không có truyền thống tự sát mà bất ngờ xuất hiện số người tự sát cao khác thường, đây là lời cảnh tỉnh đối với chính quyền trong việc phá hoại văn hóa truyền thống; việc giới trí thức tự sát là tổn thất nghiêm trọng nhất đối với sự phát triển của một xã hội.
Mộc Vệ (T/H)

NGÔ MINH VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC

 Nguồn: Ngominhblog

Ngô Minh Tên thật là Ngô Minh Khôi ( tên gốc họ dùng để ghi sớ cúng là Ngô Văn Khôi) , sinh 10-9-1949 ( Kỷ Sửu) Quê quán : Làng Thượng Luật, xã Ngư Thủy Trung , huyện Lệ Thủy , tỉnh Quảng Bình. Chỗ ở hiện nay : 11/73- Phan Bội Châu, TP Huế.
Email : ngominhnt@gmail.com.  ĐT : 0985756355
Blog:  ngominh.wordpress.com
Bố : Ngô Văn Thắng ( 1903 – 1956); Bị quy sai địa chủ và bị bấn trong CCRĐ. Mẹ : Đào Thị Tam ( 1910 – 1983)

  • Tốt nghiệp Đại học Thương nghiệp Hà Nội ( 9-1972)
Đi bộ đội ngày 25-9-1972; vào miền Đông Nam Bộ  4-1973 , Ban Chính trị Trung đoàn 141, Sư đoàn 7 . Quân hàm : Trung sĩ nhất . Viết báo, làm bản tin Ba Vì của Trung  Đoàn từ 1973- 1976
Huy chương Chống Mỹ cứu nước Hạng Nhất. Huy hiệu Tham gia Chiến dịch Hồ Chí Mịnh 1975. Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp báo chí Việt Nam ( 2009)
– Đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng Miền Nam ( kết nạp tại mặt trận Xuân Lộc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh ngày 25-4-1975).Huy hiệu 30 năm tuổi đảng(2006)
– Vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987 ; Hội Nhà báo Việt Nam 1989; Hội nhà văn THừa Thiên Huế 1980, Hội Nhà báo Thừa Thiên Huế 1989. Phóng viên báo Thương Mại tại miền Trung  từ 1989 -2004;  9- 2005, nghỉ hưu.

Đã từng giữ các công việc ;
– Làm báo ở Ban chính trị E14, F7, Miền Đông Nam Bộ ( 1973- 1976)
– Cán bộ Tổ chức, Thi đua, Đào tạo, Sở Thương mại Bình Trị Thiên 1977-1989 )
– Trưởng Đại diện báo Thương Mai tại miền Trung ( 1989 – 2005)
– Uỷ viên BCH Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế các  khoá 9 (2000- 2005), 10 (2005-2010)
– Uỷ viên Hội đồng Nghệ thuật VHNT Thừa Thiên Huế khoá 9
– Ủy viên BCH Hội Nhà báo Thừa Thiên Huế khoá 11 ( 1996-2001), khoá 12 ( 2001-2005)



16 TẬP THƠ:
Phía nắng lên (1985); Chiếc lá biết đi (thơ thiếu nhi, in chung, 1987); Chân dung tự hoạ (1989); Nước mắt của đá (1991); Chân sóng (1995) ; Quà tặng xứ mưa (1996); Đứa con của cát ( 1998); Nắng mặn (thơ thiếu nhi, 2001); Phù sa biển (2001); Huyền thoại Cửa Tùng (2004); Lệ Thuỷ mút mùa ( 2005); Thơ tặng (2007), Gọi lá (2008 ); Ký tự biển (2013), tái bản 2015; 99 vần cũ (2016); 40 năm em ( 2017)

Góp mặt trong gần 20 tuyển tập thơ: Tuyển tập Văn học Thiếu nhi (NXB Văn học, 1995); Tổng tập Nhà  văn Quân đội ( tập2);Tuyển tập ngàn năm thơ trữ tình (1010-2004); Tuyển tập Ngàn năm thương nhớ ( thơ về Hà Nội từ 1010 – 2010); Tuyển tập Ngàn năm thơ tứ tuyệt Việt Nam (NXB Văn hóa dân tộc, 1997); Tuyển tập Thơ hay Việt Nam (NXB Văn hóa-Thông tin, 2006; Tuyển tập thơ Thầy giáo và Nhà trường (NXBGiáo dục,1999);  Tuyển tập Thơ văn xuôi (NXB Văn học, 1997); Tuyển tập Hai thập kỷ thơ Huế (NXB Văn học, 1995); 700 năm thơ Huế (NXB Thuận Hóa, 2008); Tuyển tập Lục bát Việt Nam (2 thế kỷ), NXB Văn học, 1994; Tuyển tập thơ Việt Nam 1975-2000, NXB Hội Nhà văn 2001; Thơ tình Việt Nam thế kỷ 20, NXB Thanh Niên -2000; Nghìn câu thơ tài hoa, NXB Văn học, 2000; Tuyển tập 30 năm Văn học Thừa Thiên Huế (NXB Thuận Hóa, 2008); Nhà văn Việt Nam hiện đại Quảng Bình …Ngoài ra còn có thơ trong các tuyển tập thơ Bình Định, Gia Lai, thơ Đà Lạt…

17 TẬP VĂN XUÔI, TIỂU LUẬN-PHÊ BÌNH, SƯU TẦM BIÊN SOẠN:
Văn hoá kinh doanh thời đổi mới (2000) ; Chuyện làm ăn thời hội nhập (   2002); Nhớ Phùng Quán (NXB Trẻ, 2003); Chuyện làng thơ (NXB Lao Động, 2004); Ăn chơi xứ Huế (2002), Đất Thiêng ( 2005); Phùng Quán- Ba phút sự thật ( tổ chức bản thảo, giới thiệu, 2006) ; Chuyện tử tù Lê Quang Vịnh, (ký sự, Văn nghệ 2007), NXB Lao Động tái bản năm 2012); Phùng Quán còn đây ( suu tầm , biên soạn cùng chị Vũ Bội Trâm, Văn Nghệ, 2007) ; Hồn quê trầm tích (2010); Cổ tích tàu không số (NXB Hội Nhà văn, 2011); Tướng Giáp trong tôi (Thuận Hóa, 2013); Quê quán của thơ (Thuận Hóa, 2013); Không thể khác (2016); Trung Hoa tạp lục (2016); Sống thời bao cấp (NXB Hội nhà văn, 2016); * Năm 1995, NXB Hội Nhà văn ấn hành bộ sách “NGÔ MINH TÁC PHẨM” 5 tập ( thơ- chân dung- ký- tiểu luận – mọi người viết về NM)  , 2100 trang

Sắp in :
  • Trường Sơn- 100 ngày và một đời ( tự truyện)
  • Cõi em ( Tập thơ tình)


  • Giải thưởng văn học :
Giải thưởng Trung ương Đoàn – Hội Nhà Văn 1982; Giải thưởng Văn học Bình Trị Thiên lần 1 (1982), lần 2 (1987); 2 lần Giải thưởng Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội  VHNT Việt Nam: 1996 tập thơ Chân Sóng, năm 2004 tập thơ Huyền thoại Cửa Tùng. Giải thưởng VHNT Cố Đô (TTH) lần1 (1989) tập thơ Chân dung tự hoạ; lần 2 (1999) tập thơ Chân sóng , lần 3 ( 2003)- tập thơ Phù sa biển.; lần thứ4: Tập thơ Huyền thoại Cửa Tùng.(2009)
Được tặng thưởng thơ hay  báo Nhân Dân 1978 (bài thơ Nón bài thơ và Hương đất cao Nguyên); Văn Nghệ Quân đội năm 1985 ( bài Ba mươi sáu dây đàn), Thơ hay 5 năm Tạp chí Sông Hương ( chùm thơ: Tìm tôi tìm Huế , Người bán mặt nạ, Miên man đêm Đồng Hới ).v.v.
– Giải thưởng cuộc thi sáng tác thơ ĐÂY BIỂN VIỆT NAM với bài thơ Nghe trẻ hát ở Trường Sa, 3-2012, do báo VietNamNet và Hội Nhà văn tổ chức.

LỜI CHIA TAY ĐỘC GIẢ


NGÔ MINH
Độc giả bốn phương của QUÀ TẶNG XỨ MƯA yêu quý!
Đầu tháng tư năm 2007, Ngô Minh đã nhờ các nhà văn Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Quang Lập và sau đó là Mèo Bự lập cho trang Blog  QUÀ TẶNG XỨ MƯA  ở 2 địa chỉ: https://ngominhblog.wordpress.com/ ngominh.vnweblogs.com/. Năm 2016, trang chủ vnweblogs.com/ bị đánh sập sau 9 năm hoạt động. Như  vậy đến hôm nay trang QTXM ngominhblog.wordpress.com đã hoạt động được tròn 10 năm.

10 năm qua, 2 trang QUÀ TẶNG XỨ MƯA đã  được 11 triệu lượt bạn đọc truy cập. Chủ bút Ngô Minh đã phục vụ bạn đọc từ thơ, truyện ngắn, tản văn đến những bài chính luận phản biện sắc sảo của chính chủ bút viết hay các cộng tác viện tham gia. Ngoài ra còn tải về rất nhiều bài vở xuất sắc của các nhà văn, nhà thơ, nhà chính luận  nổi tiếng ở trên mạng. Mỗi ngày in 5 đến 6 bài trong đó có những bài phản biện sâu sắc với chính kiến mạnh hướng về đổi mới đất nước, hướng về tự do, dân chủ cho nhân dân. QUÀ TẶNG XỨ MƯA mỗi ngày có trên 1000 người truy cập, như là một tờ báo mạng được độc giả mến mộ.

10 năm qua QTXM đã được rất nhiều nhà văn, nhà báo cộng tác bài vở một cách tích cực như: Các nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khắc Phê, Nguyễn Trọng Tạo, Xuân Đài, Trần Thùy Mai, Lê Mai, Nguyễn Khôi, Nguyễn Ngọc Kiên, Trác Diễm, Nguyễn Đức Giao, các nhà sử học Mai Khắc Ứng, Nguyễn Đắc Xuân, các nhà báo Lê Quang Vinh, Nguyễn Hoàng Linh, Thanh Tùng .v.v..Chủ bút Ngô Minh vô cùng cảm ơn sự gắn bó và chia sẻ của các cộng tác viên xa gần.

10 năm, bây giờ chủ bút Ngô Minh đã tuổi 70, bệnh tật quá nhiều, đã có lần suýt “đi họp” , nhiều lần đau ốm nằm viện phải trốn về hàng ngày để cập nhật bài vở. Mà bài vở hàng ngày phải cân nhắc, chọn lọc rất căng thẳng để có chất lương cao phục vụ độc giả, nên không thể kham nổi, nên mạo muội CHIA TAY ĐỘC GIẢ TỪ NGÀY HÔM NAY.

Chia tay Blog QUÀ TẶNG XỨ MƯA, Ngô Minh đã có Facebook.com/ Ngô Minh Khôi thay thế để liên hệ chia sẻ với anh em độc giả thân thiết. Chia tay , nghãi là không cập nhật hàng ngày, nhưng QUÀ TẶNG XỨ MƯA vẫn con trên mạng, độc giả vẫn có thể tuy cập.

 XIN BÁI TẠ ĐỘC GIẢ THÂN THIẾT, BÁI TẠ CÁC CÔNG TÁC VIÊN 10 NĂM CÙNG CHUNG SỨC XÂY DỰNG MỘT TRANG MẠNG CHẤT LƯƠNG, HẤP DẪN. NGÀY CHIA TAY, NM XIN DĂNG MỘT LOẠT BÀI VIẾT CHỌN LỌC CỦA MÌNH ĐỂ BẠN ĐỌC CÙNG CHIA SẺ!
Advertisements

Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2017

Robert Mugabe đã hủy hoại Zimbabwe như thế nào

Lê Thị Hồng Loan biên dịch
Lê Hồng Hiệp biên tập

Robert Mugabe.
Chủ nghĩa độc tài đơn thuần là không đủ cho Robert Mugabe; xây dựng chính sách ngông cuồng mới là điều quan trọng.
Vào năm 2016, khung cảnh thường thấy ở thủ đô của Zimbabwe là những công dân sợ hãi xếp hàng bên ngoài ngân hàng, chờ đợi đầy hy vọng để có thể rút tiền mặt. Đó là biểu hiện rõ ràng nhất của sự lo lắng về kế hoạch kinh tế mới nhất của Robert Mugabe. Trong tháng 11/2016, ngân hàng trung ương đã bắt đầu in một loại tiền mới, dưới hình thức “tiền trái phiếu”. Bề ngoài thì loại giấy bạc này có giá trị tương đương đồng đô la Mỹ, loại tiền tệ mà Zimbabwe đã sử dụng từ năm 2009 sau một đợt lạm phát ngoạn mục – nhưng không ai bị lừa. Đã có đủ điều kiện cho một thảm hoạ kinh tế nữa do Mugabe gây ra.
Zimbabwe đã từng có những nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, một ngành nông nghiệp phát triển bùng nổ và nguồn vốn con người dồi dào, nhưng trong suốt 37 năm qua, Mugabe đã làm phung phí gần như toàn bộ những nguồn lực đó. Gần một phần tư người dân Zimbabwe đang cần hỗ trợ lương thực và 72% trong số họ sống trong nghèo đói. Trong khoảng thời gian một thế hệ, Mugabe đã đảo lộn cả một quốc gia. Vậy ông ta đã làm Zimbabwe sụp đổ như thế nào?
Mugabe đã từng là một du kích quân Mác-xít. Ông lên nắm quyền vào năm 1980 sau khi đất nước này giành được độc lập từ Anh. Mugabe đã có một khởi đầu đầy hứa hẹn – kêu gọi hòa giải với người Zimbabwe da trắng, cải thiện việc tiếp cận giáo dục và chăm sóc sức khoẻ cho tất cả mọi người. Nhưng những chính sách ban đầu của ông ta bị làm lu mờ bởi những điều xảy ra tiếp theo. Để hỗ trợ chi phí cho nhiều kế hoạch khác nhau, Mugabe đã vung tay quá trán một cách điên cuồng – một thói quen mà ông đã tiếp tục trong suốt thời gian cầm quyền của mình. Và bởi ông nắm giữ quyền lực trong nhiều thập kỷ, sự cai trị của ông trở nên độc đoán, phi dân chủ và mang tính áp bức. Tất cả điều này đã gây ra những vấn nạn điển hình.
Tuy nhiên, cách thức mà Mugabe đã hủy hoại Zimbabwe là thông qua sự quản lý kinh tế hết sức yếu kém. Một bước ngoặt trong loạt những sai lầm của Mugabe là vào năm 2000, khi ông tiến hành cải cách ruộng đất “nhanh chóng” và khuyến khích việc tiếp quản một cách bạo lực các trang trại của người da trắng, khi đó vốn là xương sống của ngành nông nghiệp nước này. Phần lớn đất đai bị tịch thu được giao cho những nông dân da đen thiếu kinh nghiệm về hoạt động nông nghiệp hiện đại; nhiều người trong số họ được lựa chọn trên cơ sở mối quan hệ của họ với ông Mugabe và đảng của ông, Đảng Mặt trận Yêu nước Châu Phi Zimbabwe (Zanu-PF).
Các trang trại của Zimbabwe, cho đến lúc đó vẫn là điều ao ước của khu vực và là nguồn lực chính cho doanh thu xuất khẩu của nước này, bất ngờ trở nên sa sút – và đã khiến toàn bộ nền kinh tế bị sốc. Tình hình tài chính vốn đã căng thẳng, với việc ông Mugabe kéo Zimbabwe dính líu vào cuộc nội chiến ở Congo. Ngân hàng trung ương của ông bắt đầu in tiền nhanh hơn để trả nợ và bồi thường cho các cựu chiến binh, đối tượng được xem là một trụ cột quan trọng trong chính sách hỗ trợ của ông Mugabe, và để bù đắp cho mức giá cao hơn gây ra bởi sự thất bại của các trang trại.
Vòng xoáy ốc nhanh chóng vượt ra khỏi tầm kiểm soát. Tại một thời điểm trong năm 2008, lạm phát đạt tỷ lệ 231.000.000%. Đồng tiền này có các tờ giấy bạc với mệnh giá lên tới 100 nghìn tỷ đô la Zimbabwe – nhưng chỉ tương đương 40 xu Mỹ vào lúc nó bị sụp đổ. Siêu lạm phát kết thúc khi đồng đô la Zimbabwe bị loại bỏ hoàn toàn để được thay thế bởi một hệ thống đa tiền tệ trong đó đồng đô la Mỹ chiếm ưu thế. Trong một thời gian ngắn, các xung lực kinh tế mang tính hủy hoại của ông Mugabe đã bị kiềm chế bởi một thỏa thuận chia sẻ quyền lực với phe đối lập. Nhưng kể từ khi khôi phục quyền kiểm soát hoàn toàn vào năm 2013, ông đã trở lại với những thói quen cũ của mình.
Tuần cuối tháng 2/2017 vừa rồi, ông Mugabe đã tổ chức tiệc sinh nhật lần thứ 93 của mình. Ông nói rằng ông muốn giữ thêm một nhiệm kỳ năm năm khác trên cương vị tổng thống vào năm 2018. Ông cũng nói rằng “chỉ có Chúa biết” liệu có điều gì có thể ngăn cản ông. Trong khi Chúa chưa can thiệp, cuộc đấu tranh để mang lại thành công cho ông đã được nghiêm túc bắt đầu trong bí mật. Người vợ thứ hai của Mugabe, Grace – thư ký cũ và nhân tình – và phó tổng thống của ông, Emmerson Mnangagwa, được coi là những đối thủ hàng đầu. Thiếu vắng một người kế nhiệm được định trước, sự ra đi của Mugabe sẽ tạo ra một khoảng trống vốn thực sự có thể gây thêm những tai ương cho đất nước này. Dưới thời Mugabe, sự hỗn loạn kinh tế đã trở thành một đặc điểm thường trực của cuộc sống ở Zimbabwe. Nhưng cái chết của một vị bạo chúa sẽ vẫn không đủ để xóa bỏ di sản của ông.
Nguồn: “How Robert Mugabe ruined Zimbabwe“, The Economist, 26/02/2017.
Chủ đề: Thế giới