Thứ Hai, 5 tháng 12, 2016

Giáo sư Harald Haas từ Đại học Edinburgh đã phát minh ra một công nghệ truyền tin mới, “Li-Fi”:
 Li-fi 100 lần nhanh hơn Wi-Fi

 Giáo sư Harald Haas từ Đại học Edinburgh (Đại học Edinburgh) 

Từ các nhà hàng tới nhà ga, những mạng không dây Wi-Fi được lắp đặt khắp nơi trong thành phố. Với sự phổ biến ngày càng tăng của các trang web video, một số người muốn truy cập internet với tốc độ nhanh hơn nữa. Một trong những công nghệ này là “Li-fi”, cho phép truyền với tốc độ 100 lần nhanh hơn Wi-fi.

Li-Fi do Harald Haas, giáo sư tại Đại học Edinburgh, Vương quốc Anh, phát minh ra. Sự khác biệt lớn nhất so với mạng Wi-Fi sử dụng sóng vô tuyến điện không dây đó là Li-Fi sử dụng quang phổ điện từ của ánh sáng nhìn thấy được, có phổ tần số rộng hơn 10.000 lần sóng vô tuyến. Điều này cung cấp khả năng truyền tin với tốc độ cực cao với hiệu quả sử dụng điện tuyệt vời.

Nguyên tắc của nó tương tự như mã Morse. Ánh sáng đảm bảo truyền tin thay vì các tín hiệu kỹ thuật số. Với công nghệ này, ví dụ dùng ánh sáng của một bóng đèn LED với một tốc độ cao của nano giây (một nhấp nháy quá nhanh để có thể nhìn thấy bằng mắt thường), một lượng lớn dữ liệu có thể được truyền cực nhanh. Nó không có bất kỳ tác động nào lên cơ thể con người như sóng vô tuyến, chúng ta có thể nói rằng đây là một chuẩn truyền tin không dây an toàn.

Ánh sáng không thể xuyên qua các bức tường, do đó phạm vi của mạng bị hạn chế. Tuy nhiên điều đó cũng cung cấp một bảo mật cao hơn so với các tiêu chuẩn của truyền tin Wi-Fi thông thường Ưu điểm lớn nhất của Li-Fi là tốc độ của nó. 

Trong những năm gần đây, khi tốc độ mạng cáp quang đã đạt tới 100 Gbps (gigabyte) cho mỗi giây, thì Li-fi cho phép một tốc độ cực cao là 224 Gbps mỗi giây. Về lý thuyết, tốc độ tải về của Li-fi cho một bộ phim dài 2 tiếng 1.5GB sẽ là 18 giây.

Hãng Velmenni của Estonia đã bắt đầu cung cấp lắp đặt  công nghệ Li-Fi trong các môi trường khác nhau, và nó đã được chứng minh rất hữu dụng. Giám đốc điều hành công ty Deepak Solanki tuyên bố “hiện nay đang tiến hành thử nghiệm trong các cơ quan và các khu công nghiệp và văn phòng.”

Li-Fi nhanh hơn và rẻ hơn so với Wi-Fi. Việc sử dụng đèn LED cũng có lợi thế là điện năng thấp và thân thiện với môi trường hơn so với bóng đèn thông thường.
( Nguồn: Google)/ (Nguồn Quà tặng xứ Mưa/ By Ngô Minh)

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016

10 Đặc điểm của người Việt do viện Xã Hội học Mỹ nêu

1.10 đặc điểm ấy đều chính xác, tuy nhiên chưa phải là đầy đủ.
2. Cách nêu trong thế so sánh ngầm với tư duy phương Tây. Chỉ người phương Tây mới nhìn ra 10 đặc điểm này.
3. Các đặc điểm đều có hai mặt. Ta thường tự khẳng định chỉ có một mặt, thiếu biện chứng VÀ THIẾU KHOA HỌC.
4. Nó không ngợi ca theo kiểu đề cao “bản sắc Việt Nam”, “tính dân tộc”, cũng không theo kiểu “người Việt xấu xí” học mót của Bá Dương, cho nên có vẻ khách quan.
5. Xét Các đặc điểm đó với thực tế nghèo khổ, lạc hậu, tụt hậu của VN thì thấy rất đúng. Nước nông nghiệp lạc hậu, tư duy theo mùa vụ, lấy đâu ra tầm nhìn dài lâu? Lại theo chế độ trách nhiệm nhiệm kì lấy đâu ra nhìn xa. Nói tầm nhìn cho có vẻ oai thế thôi, chứ ai thực hiện? Ai cũng mong hạ cánh nhẹ nhàng thôi. Tầm nhìn người Việt không xa hơn cái ghế. Câu chuyện tầm nhìn là xa xỉ đối với người Việt hiện đại. Cứ nhìn thực tế vá víu ở VN thì thấy rõ chẳng có ai có tầm nhìn. Tầm nhìn XHCN là giả tạo. Tầm nhìn TBCN không có. Chỉ mỗi việc công nghiệp hoá mà ì ạch mãi, công nghiệp hoá theo kiểu Vũ Huy Hoàng thì chỉ đớp cho ngập miệng mà thôi.
6. Tôi thấy người Việt có tính a dua, hay học đòi. Thấy thế giới có gì hay thì học đòi, tham gia ngay, nhưng do thiếu hiểu biết, nên làm không đúng nghĩa. Ví dụ thấy di sản văn hoá thế giới là đăng kí tới tấp, cái gì cũng muốn cho thỏa cơn khát sĩ diện, nhưng có suy nghĩ để bảo tồn đâu?
7. Người Việt hiện nay thiếu một trung tâm đoàn kết lớn cho cả dân tộc. Hạt nhân đoàn kết trong thực tế không lôi kéo được người dân. Cho nên làm gì cũng nửa vời. Cái gì cũng làm theo lối diễn, không làm thật bao giờ, cho nên mọi mặt không phát triển. Cả xã hội là một show diễn vĩ đại, hoành tráng từ cấp cao nhất cho đến cấp thấp (ngoại trừ một số hoat động chuyên môn). Rất ít ai làm thật một điều gì. Chỉ một vụ Vũ Huy Hoàng là thấy người ta đang nghĩ cách để diễn cho đẹp mặt, chứ không muốn qua đó mà chấn chỉnh lại xã hội. Thằng Vũ Huy Hoàng đã phá hoại sự nghiệp công nghiệp hoá của đất nước mà không xử tội, lại còn huân chương độc lập, đồng chí đồng rận… Họ không muốn từ bỏ loại CÁN BỘ KIỂU VŨ HUY HOÀNG. Do không mấy ai làm thật các sự nghiệp xã hội, cho nên xã hội không chiu phát triển. Lấy vị dụ về giáo dục. Biết bao khẩu hiệu, biết bao quốc sách, biết bao dự án tiêu bạc tỉ đô, mà mấy ai làm thật?
8. Cho nên chỉ khi nào có người muốn làm thật, không biểu diễn thì đất nước mới có cơ hội phát triển. Người Mỹ không phát hiện ra khả năng biểu diễn của người Việt chúng ta. Nếu họ hiểu có thể họ sẽ không viện trợ nữa. Cho nên cần giấu kĩ đặc tính này và phải biểu diễn cho i hệt như thật.
9. Người Việt có lối tự tôn ngầm mù quáng rất tai hại. Nước Nhật chẳng hạn, thấy mình thua nước nào thì học ngay nước đó để bằng họ. Người Việt thấy mình thua người ta thì tìm một cái khác của mình để đối trọng ra điều ta chẳng thua, vì thế mà cứ thua mãi. Ví dụ tự hào về chế độ của mình.
10. Muốn tiến bộ cần học tập tư duy phương Tây. Chớ nên dựa vào bản sắc dân tộc mà ảo tưởng và tụt hậu, Thời đại đã khác xưa rồi.
T.Đ.S.

NẮNG HANH
                                                                                                     Tản văn của Hồ Ngọc Vinh

Giữa mùa đông, khi mặt trời đỏ lừ từ từ nhô lên. Hừng đông. Những ánh nắng đầu tiên của một ngày mới bắt đầu. Màn sương như những tấm voan mỏng dần tan. Thôn xóm dần hiện ra với những ngôi nhà trong đủ sắc màu xanh, vàng, ghi, mái son, những mảnh vườn xanh ngay cả trong những ngày đông giá. Hơi sương lạnh. Bình minh thôn dã thật êm dịu. Êm dịu!
Nắng hanh. Thật  hiếm có những ngày đông, nắng hanh vàng sóng sánh cả không gian như những ngày này.
Khác với nắng xuân, nắng hè, nắng thu, Nắng hanh rất vàng, vừa có cái nóng, vừa có cái lạnh hơi se se.
Nắng hanh thường có vào dịp cuối thu, nhưng phải tới sang đông nắng hanh mới đầy đủ những điểm riêng biệt của nó. Màu vàng óng trải trong không gian, vàng từ những ngôi nhà, vàng trên lá biếc, vàng trên cánh đồng, cả không gian nhuộm màu vàng của nắng hanh.
Mùa nắng hanh cũng là mùa của cây trái chín. Đôi bên đường, suốt chiều dài từ Văn Giang  về tới Khoái Châu những vườn cây quả đang vào mùa chín rộ. Những quả bưởi, quả cam, quýt …vàng ruộm nắng. Những mảnh  vườn bắp cải xanh mỡ mang đang cuốn lá.
Nhớ những câu thơ trong bài thơ bài ca xuân 61.của nhà thơ Tố Hữu: ‘ Rét nhiều nên ấm nắng hanh, đắng cay lắm, mới ngọt lành đó chăng”. Bài thơ này Tố Hữu viết trong cao trào cảm xúc khi đất nước vừa từ đêm trường của phong kiến, thực dân trở thành một đất nước độc lập, tự do, có những thành tưu nổi bật trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, Miền Nam thu được những chiến thắng giòn dã. Từ những hiện tượng tự nhiên, logic của tự nhiên, bằng hai câu thơ ấy,Tố Hữu đã nói nên quy luật của cuộc sống xã hội, của cách mạng. Gian khổ để có những ngày độc lập, tự do, tự chủ với niềm vui phơi phới hướng tương lai.  Không ít nhà thơ đã viết về nắng hanh. Trong bài thơ nắng hanh, Anh Thơ viết: “Ngoài quán chợ với chiếc khăn mỏ quạ, cô gái làng ghé nón sau bồ cau. Nhưng nắng hanh cũng làm cô đỏ mặt. Cho thêm duyên trên miệng thắm quyết trầu”. Đọc những câu thơ này tôi chợt liên tưởng tới hình ảnh của những thiếu nữ tuổi đôi mươi, mà không chỉ những thiếu nữ vào độ tuổi ấy, nói chung nắng hanh làm hồng thêm má ướt, thắm xanh thêm ánh mắt họ.
Thiên nhiên  kỳ diệu đã ban cho con người những mùa: xuân hạ, thu đông. Xen với những ngày giá rét, bầu trời u ám đầy mây và gió đông bắc lạnh đến cắt da , cắt thịt là những ngày nắng hanh. Thiên nhiên cho con người những cảm xúc tinh khôi, lãng đãng để yêu hơn mảnh đất chôn nhau cắt rốn này;nâng đỡ tinh thần của con người bằng vẻ đẹp của nó, của nắng hanh.
Hãy quan sát, rung cảm trước nắng hanh để biết trân trọng và gìn giữ vẻ đẹp của tự nhiên, của cuộc sống con người.


                                                                                                            Hưng Yên tháng 12 năm 2016

ĐI DỌC SÔNG HỒNG

Hưng Yên quê tôi chuẩn bị kỷ niệm 185 năm thành lập tỉnh và 20 năm tái lập tỉnh . Mình có bài thơ : Hưng Yên với nghìn năm Thăng Long tặng các bạn quê Nhãn trên mọi miền Tổ quốc và nước ngoài hướng về quê hương :
Thơ Quý Nghi.
Đi dọc Sông Hồng
Trên con tầu mang tên Phố Hiến
Những công chúa Tiên Dung
Thời áo phông tìm đến
Nguồn cội một mối tình
Bất tử của ngàn năm !...
Dòng chảy phù sa
Vọng lời xa xăm
Bờ bãi đôi bờ
Lở bồi xanh mướt ...
Tàu ngược xuôi con nước
Cặp bến làng cổ Bát Tràng
Tìm trong khuôn mẫu bạt ngàn
Cho mình một nước men riêng
Dời Hà Thành tàu xuôi Hưng Yên
Lên bãi tự nhiên
Vào vọng cung Đa Hoà khấn vái
Cầu cho tình yêu
Vượt qua ngang trái
Xây lâu đài hạnh phúc thiêng liêng
Cất cánh bay đôi lứa thần tiên
Đọc câu đối Chu mạnh Trinh hào sảng ?...
Nơi đây đất Nhãn
Mùa hoa dào dạt ong bay
Thành phố Hưng Yên
Cầu Yên Lệnh dang tay:
Phố vẫn nét quê
Thơm hương rơm rạ
Sân thượng chang chang ngô thóc
Bên cửa sổ :
Em ngồi hong tóc
Thoảng thơm bồ kếp , lá chanh
Chợ Quảng Châu họp sớm tan nhanh
Về còn cày cuốc
Gửi lá trầu cay tới mọi miền đất nước
Cho hạnh phúc nồng say lứa đôi..
.
Nhuy sen Phố Hiến quê tôi
Ngàn năm thơm ngát trà người Tràng An !.
QN- 2016

VỀ THĂM ĐỀN THÁC

Tặng thành phố tôi yêu, tặng bạn văn và bạn bè tôi bài thơ này.

Anh lại về phố núi,
Nghe tiếng sông Đà reo.
Hòa Bình đang tuổi trẻ,
Vườn hoa muôn sắc màu.
Đông đã về với núi,
Vẫn vương ấm nắng vàng.
Những con tàu màu xanh,
Dập dềnh bên bến Ngọc.
Hồ xanh, núi trời xanh.
Giữa mênh mông trời nước,
Những con tàu sóng lăn.
Trên boong tàu, du khách,
Trong thanh thiên mơ màng.
Chúa Thác dạy đoàn kết
Quân với dân một lòng,
Lại dạy dân trồng cấy,
Canh cửi và chăn nuôi.
Linh xưa vấn còn đây,
Nơi tiên nữ giáng trần,
Động chúa bên hồ biếc.
Trong mơ màng huyền ảo
Thấp thoáng bóng thuyền lương.
Tiên nữ trong cõi tiên,
Bỗng hóa thành truyền thuyết.
Em có về với anh?
Cùng thăm đền Chúa Thác.
Thác Bờ, Hoà Bình, 11/2016

SÔNG QUÊ

Tản văn của Nguyễn Văn Thích
Sông quê !
Người làng tôi gọi thế mặc dù sông cũng có tên. Cha ông đã dặt cho sông cái tên rất đẹp “Nguyệt Đức”. Theo người già giải thích thì “Nguyệt “ là trăng,”Đức” là phẩm hạnh con người. Đặt tên ấy hẳn tổ tiên đã lấy đức làm đầu
Xa xưa sông đẹp lắm, nước chảy men theo làng từ đình Rãy đến đình Vách, uốn lượn như một dải lụa. Đoạn giữa có chiếc cầu đá bắc ngang, người làng gọi “cầu Chùa” vì bên kia cầu chênh chếch về phía tây là chùa Hòa Lạc, một di tích đã được nhà nước cấp bằng “Văn hóa-Lịch sử”. Cây gạo lẻ loi, tuy không xum xuê, nhưng mùa hè nào cũng nở đầy hoa. Thuở nhỏ chúng tôi thường đứng trên cầu nhảy xuống sông để tắm. Bên này cầu có ao Giáp, ao làng Hoàn, gò Ông Voi vừa làm tăng cảnh quan, vừa là chứng tích truyền thuyết lịch sử của làng
Tương truyền, cách đây hàng nghìn năm, hai vị Cường Bạo Đại Vương, Thạch Linh Đại Vương khi dẹp giặc xong, trên đường về quê, qua địa phận Hành Lạc, thấy nơi đây cây trái tốt tươi, người người hòa thuận, bèn dừng chân nghỉ lại. Bỗng nhiên đêm ấy trời nổi giông gió, sấm chớp đùng đùng, Rồi mưa, mưa tràn mặt đất, nước réo ầm ầm phía dòng sông. Sáng ra khi mọi thứ yên tĩnh, các bô lão trong làng tìm mãi chẳng thấy hai vị đâu, Nơi hai vị nghỉ chân, mối đùn thành một cái gò rất cao. Thấy lạ, mọi người truyền nhau đây là nơi hai vị “hóa” để về trời. Tử đấy gò đất được gọi gò “Ông Voi”
Đứng giữa cầu Chùa thả mắt về hai phía, dòng sông như chiếc kính thu thiên. Bầu trời in dưới đáy làm nền cho bức tranh thiên nhiên kỳ ảo, hai hàng cây bên bờ soi bóng đung đưa theo nhịp nước trôi
Thuở trên đầu còn để trái đào, bố tôi đã được ông nội tôi kể cho nghe
Vào thế kỷ XVII làng Lê – Xá có dòng họ Trương, bà Trương Thị Ngọc Chữ lấy Trịnh Bính, đẻ ra Trịnh Cương. Mười bốn tuổi lên ngôi, chúa Trịnh Cương hay về thăm quê mẹ. Một hôm du thuyền ngược dòng Nguyệt Đức, đến địa phận làng tôi (Hành Lạc) thấy có khoảng đất trống, ba mặt là làng, một mặt có bến sông, bãi chợ, chúa bèn cho dừng thuyền lên bờ thưởng ngoạn..Xa xa, những vườn nhót vàng sẫm, tiếng chim tí tách truyền cành, ngài say mê chẳng muốn quay về.Thế rồi thành thói quen, cứ mỗi lần về quê ngoại, chúa lại đến nơi đây ngắm cảnh, nhiều lần ngủ lại qua đêm. Dân làng tôi thấy chúa mến cảnh, quí người làng, bèn xin chúa cho lập một vườn Ngự , từ đấy cái tên xóm Vườn Quan , Lưu Xá được hình thành
Từ Lê Xá ngược dòng sông qua Ngô Xuyên mới tới Hành Lạc, đặt Vườn Ngự ở đây hẳn chúa Trịnh Cương phải tinh tường lắm
Chẳng biết chuyện ông nội tôi để lại có phải là chứng tích hay không, nhưng được nghe qua lời kể lại của bố tôi, tôi không chỉ tự hào về đất làng mà còn thấy làng quê, dòng sông và con người gắn bó thật khăng khít. Bà nội mất, tôi theo mẹ đến dòng sông. Mẹ ném một hào xuống sông rồi múc một ca nước về rửa mặt. rửa tay chân cho bà. Mẹ tôi mất. chị tôi cũng làm như vậy
Tôi tắm nước dòng sông từ nhỏ, nước dòng sông lại rửa sạch cho bà và mẹ tôi trước khi từ giã cõi trần. Cũng là nước của dòng sông thôi, sao có lúc thân thiện thế, có lúc linh thiêng huyền bí thế ?
Làng tôi nghèo, người làng đa phần làm nông nghiệp, con trâu cái cày là bạn không thể thiếu với nhà nông. Những chiều tháng sáu âm lịch, mang trâu ra sông tắm, nhìn đàn cá bơi quanh, bao mệt nhọc của một ngày đi cày, nước sông quê dường như cũng cuốn trôi đi hết
Đêm trăng ngồi dưới bóng tre, vuốt tóc người yêu, nhìn dòng nước bạc, thả con thuyền giấy trôi, lòng bồng bềnh như mình không còn là con người thực nữa. Chao ôi ! sông quê hiện thực thế, sông quê lãng mạn thế. Một anh bạn làm thơ thốt lên” Gió triền sông thổi dài câu hát” thật chẳng ngoa chút nào
Tôi may mắn hơn các bạn cùng tuổi, từ nhỏ đến giờ chỉ quanh quẩn bên khúc sông quê, được ăn những bữa cháo trai béo ngậy mà dòng sông cung cấp, được bơi qua sông đánh nhau với lũ trẻ thôn bên, được chứng kiến những buồn vui mà dòng sông chẳng thể thốt lên lời.
Sông giận giữ khi trời nổi giông gió, sông đau dớn, quằn quại khi phải nhấn chìm những di sản quí giá một thời!
Giờ đây làng đã lan tới tận bờ sông. Lòng sông đầy lên bị bị ứ đọng những rác thải lâu ngày. Thương tình anh bạn làm thơ. Câu hát không được gió triền sông thổi dài mà phải dừng lại bởi bức tường những nhà cao. Nhịp sống ồn ã kiểu thị thành đã tới, Người ta quên đi cả những tên xóm đầy ý nghĩa, mà gán cho nó bằng những con số vô hồn, xóm 11, xóm 12, ! Ngay cả các phương tiện truyền thông của thôn, của xã cũng thản nhiên gọi vậy !
Tuy vậy sông quê vẫn lặng lẽ, cần mẫn chở nước trôi xuôi. Ao Giáp, ao làng Hoàn, gò Ông Voi đã bị san lấp thành nhà và vườn cây cá nhân. Ngày hội làng, đứng giữa lòng ao Giáp ngày xưa nhớ lại trò bắt vịt, lòng cứ ngao ngán. Thắp nén hương cầm trên tay, nhìn về phía gò Ông Voi thấy như mình có tội với tổ tiên, với Thành Hoàng làng
Câu nói người xưa”sông có khúc…” cứ ám ảnh tôi. Cả một dòng sông nhưng mỗi khúc sông mang một tên khác nhau,qua địa phận làng nào thì khúc sông mang tên làng ấy,có khúc sông mang hai cái tên khi mà hai bên bờ sông là hai làng khác biệt. Chẳng biết sông buồn hay vui khi mang hàng trăm cái tên còn tên thật thì bị lu mờ,
Thực tình mãi đến những năm 90 của thế kỷ XX , một số đình chùa được cấp bằng”Lịch sử-Văn hóa” người làng tôi mới biết đến hai tiếng “Nguyệt Đức”, tuy vậy cách gọi sông quê, thói quen đã ngấm thành máu thịt không dễ gì từ bỏ
Dù khác xưa nhiều nhưng với làng sông vẫn gắn bó thân thiết trong hai tiếng SÔNG QUÊ
LikeShow more reactions
Comment

Nhớ tiếng chuông chùa


Tản văn của Nguyễn Văn Thích

Cũng như bờ tre, cánh cò, cây đa, bến nước, từ lâu tiếng chuông chùa đã đi vào lòng người quê như ấn tượng một nét làng. Buổi sáng khi mặt trời mới ló vài tia hồng nhạt, buổi chiều khi mặt trời sắp tắt, tiếng chuông chùa lại ngân lên khoan thai, đĩnh đạc. Thời khắc chuyển giao giữa ngày và đêm, người ta quen gọi bình minh, hoàng hôn đã tốn bao giấy mực của những người làm thơ, viết văn. Bình minh vẫn trong lành, hồng nhạt, hoàng hôn vẫn tím sẫm, trắng đục lặng lẽ tiễn đưa mảnh nắng cuối cùng của ngày
Sinh ra từ bờ tre, gốc lúa, ai không mang nét làng trong mình thì chẳng thể thành người. Vừa ra khỏi vành nôi, lời ru của mẹ quện với tiếng chuông chùa đã ngấm vào lòng để lớn lên dù có đi xa, mỗi người vẫn mang trong mình âm hưởng làng quê
Ở đọ tuổi tôi dường như ai cũng có một quãng đời làm lính. Từng quen với những tiếng kẻng báo thức, báo ăn, báo họp ,báo nghỉ và cả báo động nữa, vậy mà vắng tiếng chuông chùa ai cũng thấy nhớ nhung
Chuyện kể rằng:
-Chùa làng tôi, tên chữ” Hòa Lạc Tự”, người các làng lân cận gọi chùa Bến, người làng tôi vẫn gọi chùa làng, khởi thủy ở phía Tây Nam gianh giới giữa làng tôi {Hành Lạc} và làng Cố, lúc ấy gọi chùa Trên. Xa xưa làng bên sông có người đỗ Trạng nhà vua cho về quê cắm đất phân phong hưởng thực lợi. Các bô lão làng sợ mất cánh đồng bên sông mới cho chuyển chùa về vị trí hiện nay {lẻ loi bên bờ Bắc sông quê}. Người làng đến chùa phải đi qua chiếc cầu đá bắc ngang
Nằm trên mảnh đất chừng ba mẫu Bắc Bộ, lũy tre dày đến ba mét bao bọc, nhiều cây to rậm rạp, từ xa trông chùa như một khu rừng. Cổng chùa ở phía Nam nhưng chùa lại trông về hướng Bắc, phía làng có ông Trạng . Người làng kháo nhau chùa thiêng lắm, ai đến chùa cũng phải thành tâm. Vì thế dải đất nằm trong tầm ngắm của ông Trạng thôn bên vẫn còn nguyên
.Mặc dù chỉ là truyền miệng, không rõ thực hư nhưng chuyện đã phần nào lý giải về hướng chùa ít thấy ở các miền quê thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời đề cao ý thức giữ đất của người làng khi bị bất lực bởi quyền thế
Chuông chùa được đúc từ thời Minh Mệnh, qua bao thế hệ con người, tiếng chuông vẫn ngân nga, thả vào không gian những âm thanh ngọt ngào, dịu nhẹ. Có những đôi trai gái đã hẹn nhau bằng tiếng chuông chùa
Ngày xưa mỗi lần đến chùa, mẹ tôi đều phải sạch sẽ, bây giờ vợ tôi cũng vậy. Người ta đến chùa không chỉ để cầu lộc, cầu tài mà còn thực tâm sám hối cả những điều xem như tội lỗi. Niềm tin gần như tuyệt đối vào sự linh thiêng của chùa đã khơi dậy tính “thiện” tưởng như đơn giản mà khó thực hiện ở mỗi con người
Hồi nhỏ, ngày nào tôi cũng hai lần được nghe tiếng chuông chùa, ấy là vào lúc bình minh và hoàng hôn. Mẹ tôi bảo, những oan hồn bị giam trong ngục tối chỉ được ra ngoài khi có tiếng chuông chùa, bao giờ tiếng chuông cuối cùng ngừng ngân, những oan hồn ấy lại phải trở vào ngục tối. Người ta có thể nói gõ trống, đánh kẻng nhưng lại bảo thỉnh chuông, thì ra tiếng chuông chùa là lời mời thiêng liêng nhất
Khác với mọi thứ âm thanh, tiếng chuông chùa không dồn dập như kẻng báo động, không thôi thúc như trống đốc sưu, không vội vàng như còi tập hợp, âm hưởng của nó vang xa mà nhẹ nhàng, lúc như bản nhạc, lúc như tiếng vọng để rồi trước khi ngưng hẳn còn như nhắc nhở điều gì
Tương truyền từ xưa, xưa lắm có một tên đồ tể, buổi sớm hễ cứ nghe tiếng chuông chùa là cầm dao ra đi. Một đêm nhà sư ở một chùa nọ nàm mơ có tiếng kêu hãy cứu mẹ con chúng tôi. Đêm ấy trằn trọc mãi, gần sáng nhà sư mới chợp mắt. Tỉnh dậy, mặt trời đã lên cao, nhà sư vội vã thắp hương rồi thỉnh chuông. Công việc vừa xong thì tên đồ tể phăm phăm cầm dao bầu đến. Nhà sư sợ hãi chẳng hiểu sự tình. Thì ra một con lợn xề nằm trong diện khai tử của tên đồ tể vừa đẻ mười con. Tên đồ tể hỏi nhà sư vì sao thỉnh chuông muộn rồi cắm phập chiếc dao bầu xuống khoảnh đất trước cửa tòa Tam Bảo từ giã nghề mổ lợn
Vậy mà đã trên dưới bốn chục năm chùa làng không thỉnh chuông. Người làng quen dần với âm thanh của loa phóng thanh, ti vi, cát sét…chẳng mấy ai nhắc đến tiếng chuông chùa
Từ ngày được cấp bằng chùa làng thay đổi đến chóng mặt. Miếu Cô, miếu Cậu, tượng Quan Âm Bồ Tát mọc lên án ngữ cả lối vào chùa. Nhà mẫu vốn đã chật chội, giờ đắp cả một sơn trang. Những viên đá gắn xi măng tạo nhiều hình thù kỳ dị vừa lạ mắt, vừa khó hiểu. Mỗi công trình đều được gắn một biển công đức. Lũy tre xanh quanh năm đầy tiếng chim hót đã được thay thế bằng bốn bức tường bao. Nhiều cây to bị chặt hạ, Phía tây nam chùa một ngôi nhà gác mọc lên
Tôi đến chùa làng vào một chiều mùa đông hanh khô, lạnh lẽo, trong chùa tiếng mõ “cốc cốc” cũng khô khốc như thời tiết, môi và làn da nứt nẻ. Cảnh chùa giờ quang đãng, sáng sủa, những làn khói mảnh mai vật vờ trước các biển công đức. Quả chuông vẫn đó, vẫn im lìm ngủ dài trên gác chuông ngôi nhà tiền tế. Trên cửa sổ tầng hai ngôi nhà gác, có nhà sư thò đầu ra nói với ai đó dưới sân
Thấy tôi, một thiếu phụ hỏi
- Ông thấy chùa làng giờ có đẹp không ?
Tôi nghĩ mãi mà không tìm ra câu trả lời
Cứ đà này, chắc không còn lâu nữa, mái cong của chùa cũng được “bằng hóa”, nền chùa được lát gạch hoa, những pho tượng A Di Đà, Kim Đồng Ngọc Nữ, Phật bà Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay, Phạm Thiên, Đế Thích cũng được thay bằng vật liệu hóa học cho xứng với sự đổi mới thời hiện đại ! và như thế di tích đâu còn là những gì tổ tiên để lại
Vừa nghĩ ngợi, tôi vừa đi quanh vườn chùa. Có con chim lẻ loi từ trong nhà Tháp giật mình sợ hãi bay đi.
Bỗng nhiên tôi nhớ tiếng chuông chùa. Gía như lúc này tiếng chuông chùa vang lên, người làng tôi chắc sẽ lạ lắm