Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017

VỢ CHỒNG THỜI SMART FON



                                                                                    Truyện ngắn của Hồ Ngọc Vinh
Thủy vừa cảm thấy lo lắng, vừa bực bội, khi nhìn thầy SMART FON lúc nào cũng kè kè trên tay chồng, chỉ muốn giằng nó khỏi tay anh vứt  đi. Ngày xưa mới lấy nhau, “chuyện thầm kín chẳng dám nói với ai”, vợ chồng đêm bảy, ngày ba, ngoài ra không kể. Anh nhà chị vô cùng sung mãn, cử chỉ, hành động vô cùng âu yếm, chiều chị từng tí. Vậy mà từ ngày có cái điện thoại thông minh Hùng quí nó hơn quí vợ, cặp kè với nó, tâm sự với nó cứ như với người tình tuyệt vời. Mà vợ chồng đã già đâu chứ, mới gần bốn chục, tuổi của sự hoàn chỉnh của giới. Lẽ  ra phải ghê gớm lắm mới phải.Không những thế còn xuất hiện cái tính cáu bẳn. Hễ nói là to tiếng, nặng lời với vợ và các con. Người đâu không biết tâm lý là gì. Hay cái giống đàn ông nó thế, chưa lấy được người ta thì săn đón, được rồi thì sinh rẻ rúng.
Từ hồi chuyển từ điện thoại cục gạch sang điện thoại thông minh, Hùng cặp nhật cho mình nhiều kỹ năng lắm. Anh cài Jalo, cài Messinge, cài Twitte…rảnh việc là lướt WEB, vào FACE dốc bầu tâm sự với cả những người anh chưa gặp mặt bao giò. Đời anh không thể thiếu nó. Thiếu gì thì thiếu chứ thiếu SMART FON không hiểu đời anh sẽ ra sao. Nên mỗi lần bị vợ gầm ghè khó chịu vì sử dụng điện thoại, nói thật nhé, thây kệ Thủy. Cô ấy làm sao mà hiểu được. Đàn bà nên chăm chú vào chồng con, đừng nên quan tâm cái khác làm gì. Từ xưa đã thế rồi.

Sáng nay, mọi người trong phòng của Thủy sôi nổi bàn tán. Không chỉ phụ nữ mà cả cánh đàn ông nữa. Chủ đề không ngoài chuyện tình yêu. Mọi người cao giọng: “Chuyện ngoại tình ngày nay không hiếm gặp nữa. Tình công sở. Tình một đêm. Tình qua Email. Tình qua Face. Làm sao kiểm soát được đây. Đặc biệt là cánh đàn ông. Tốt nhất là thu đủ lương tháng. Không có tiền, mọc cánh ra mà đi. Thi thoảng tớ xem cái điện thoại nhà tớ. Biết hết các bạn của lão. Có bạn gái nào cũng biết. Bạn mới, khả nghi là tớ làm rõ liền. Làm thế không sợ ông xã giận ư. Thì nhè lúc lão mải việc, đi tắm chẳng hạn mà xem.”
Cánh nam giới: “không kiểm soát được đâu các bà ơi. Bước ra khỏi nhà, đàn ông là của xã hội rồi. Có cái tính ấy, họ tìm được muôn vàn cơ hội. Đi theo từng bước cũng chẳng quản lý được. Chỉ hy vọng vào sự tự giác của họ thôi.”
Nghe đồng nghiệp bàn tán Thủy đâm lo. Vài tháng nay rồi, Hùng dường như không biết có vợ trong nhà. Đàn ông ở tuổi tứ tuần phải sung mãn mới đúng. Đằng này có lẽ hú hí với con nào nên chẳng thèm để ý tới vợ. Kiểu này đến phải đập cái máy điện thoại của lão để lão không thể liên hệ với ai được nữa mới yên.
Nỗi lo lắng ấy từ lâu nay rồi thường trực trong Thủy làm chị ăn không ngon, ngủ không yên, liên tục phải kín đáo để ý tới thái độ, cung cách cư xử của chồng. Mà sao dịp này trông Hắn gian thế, cứ như vừa phạm lỗi gì đó….
Vợ chồng Thủy đều là công chức. Mỗi người một cơ quan. Hàng ngày, bọn trẻ đi học. Buổi sáng, Thủy, Hùng mỗi người một xe tới cơ quan. Trưa ăn cơm công sở. Tối cả nhà mới sum họp.
Chiều mỗi khi về nhà, là Thủy tranh thủ vào chợ mua bán, gấp gáp về nhà lo bữa cơm tối cho cả gia đình. Gặp chồng, gặp con là niềm vui của Thủy. Thấy chồng con ăn ngon miệng, được câu khen cũng là niềm vui của chị. Chị yêu anh ấy, yêu lũ con, coi đó là sở hữu riêng không thể xâm phạm. Bởi vậy mỗi khi đồng nghiệp râm ran về chuyện ấy, Thủy thường nói với thái độ không khoan nhượng:” Tớ chúa ghét chuyện lăng nhăng. Tớ mà phát hiện lão nhà tớ ngoại tình, là lành làm gáo, vỡ làm muôi ngay. …”.
Tối nay, sau bữa cơm tối, Hùng ra nằm giường, bật quạt, tay cầm cái SMART FON, theo thói quen lướt Web.
Nhìn chồng mải mê với cái máy điện thoại, nhớ lại chuyện giữa đồng nghiệp ở cơ quan, Thủy chợt lo. Thủy nhắc:- Anh  có cất ngay cái điện thoại đi không-  Người đâu  về đến nhà vẫn không thôi với cái máy-  Đồng thời ném cái nhìn tỏ rõ bực tức về phía chồng.
Chồng chị “ anh  Hùng “ đang nằm ngiêng trên giường, chân co, chân duỗi, dán mắt vào cái máy điện thoại, dường như không nghe thấy lời nhắc nhở của vợ, tiếp tục theo dõi một sự kiện nào đó trên màn hình điện thoại qua FACE BOOK, thi thoảng lại cười ra vẻ vô cùng đắc ý.
-Anh cất ngay cái máy điện thoại đi! Xem mãi không chán ư! Trông anh cười, nói với cái máy, người ta nói anh bị thần kinh đấy. Đàn ông đàn ang gì, đi làm cả ngày, suốt ngày ở công sở với cái máy tính, máy điện thoại, về nhà vẫn không rời ra được-  Thủy chì triết- Ngôn ngữ của chị vừa tỏ vẻ bực tức vừa mát mẻ cũng không khiến  Hùng bận tâm, rời khỏi cái điện thoại cầm tay. Anh tiếp tục dán mắt vào màn hình điện thoại, bỗng nhiên cười  thầm, miệng lẩm bẩm cái gì không rõ.
 Thủy càng thêm  bực tức nghĩ thầm: chẳng lẽ lại xông ra giường giằng lấy cái máy điện thoại ném đi cho  hả giận.
Từ lâu nay rồi vào mỗi tối, sau khi ăn cơm, anh một góc giường, hai đứa con mỗi đứa một góc ghế bận bịu với máy điện thoại. Hai đứa con chị, thằng Hạnh, con Hằng mỗi đứa một chiếc máy điện thoại thông minh. Chị bảo mua cho chúng cái máy rẻ tiền thôi, dùng Sim sinh viên, chúng không chịu, nhất thiết đòi bằng được máy APPLE hoặc dòng Sam Sung đời mới.. Tiền lương  chẳng dư dật lắm, nhưng chiều con cuối cùng anh chị phải chiều chúng. Thằng Hạnh có chiếc điện thoại thông minh, tìm cách cài được GAME,  JALO, FACE, mua sim 3G, 4G thế là cả ngày vui với thế giới ảo. Con Hằng cũng vậy suốt ngày buôn dưa lê với bè bạn, cung cách cứ như người ở trên thiên đàng rơi xuống, điệu bộ của nó, mái tóc nó để, cách nó ăn nói trông giống các nhân vật trong phim hoạt hình Hàn Quốc lại phần giống cách ăn nói, điệu bộ của người hành tinh khác.
 Thủy tiếp tục với vẻ giận dỗi không giấu diếm:Cũng như anh, em bận tối mặt cả ngày ở công sở, về đến nhà lại rối lên với cơm nước, giặt giũ cho bố con anh. Đã vậy, suốt ngày anh bận rộn với cái máy, không rời nó ra nửa bước, Việc nhà anh không giúp đỡ em. Anh không dạy dỗ chúng. Anh làm hỏng chúng. Dường như em và con, gia đình này không phải là của anh.
 Hùng dừng tay, ném cái điện thoại xuống đầu giường, nói: mất cả vui. Càng ngày càng khó tính, cấm cẳn như ma ấy.- Thì thôi vậy!
Thủy: Anh nhìn hai đứa nhỏ kia. Bố thế thì sao dạy bảo được con.
Hùng nhìn hai đứa con đang dán mắt vào điện thoại, bực mình nói: hai đứa có thôi đi không. Vào bàn học ngay kẻo lại ầm ĩ lên bây giờ. Có thôi đi không! Không thôi, bố thu lại máy đấy. Thằng Hạnh, con Hằng phụng phịu, bất đắc dĩ về bàn học. Chúng để máy điện thoại ngay trước mặt. Thoảng lại ngó vào màn hình.
Thủy nói: nước này em sẽ không thuê bao mạng Internet, không thuê bao các gói TV mạng nữa. Cứ cái đà này, các con hỏng mất, trong nhà ngày nào cũng có cãi vã chỉ vì điện thoại di động và cái tivi.
Thật ra mấy tháng trước  Thủy đã báo cắt thuê bao mạng. Thế nhưng chồng và các con chị dùng 3G rồi 4G kết quả trả cước cao quá, xót ruột, lại đành báo lại  thuê bao mạng. Từ hồi có cái máy điện thoại di động thông minh tới giờ anh sáng dậy ăn sáng, đi làm, tối về tắm giặt, ăn cơm tối , làm bạn với màn hình điện thoại tới mười một mười hai giờ đêm rồi lăn ra ngủ. Chẳng tâm lý gì cả.
Nói đến đấy, Thủy chợt nghĩ: Ngày xưa mới lấy nhau cứ quấn lấy mình, chết mệt, vậy mà giờ đây, có lần mình phải chủ động mà hắn chẳng thèm đụng cựa. Tất cả là tại cái mạng. Chị hồ nghi: có thể hắn có bồ giấu ở đâu đó . Có thể lắm…Đàn ông ai mà tin được họ.

Chiều nay, sau khi gấp máy tình trong chế độ ngủ đông, Thủy nhoài người với lấy cái túi xách để phía trái bàn. Với cảm xúc  vui vẻ vì cuối cùng công việc đã xong. Lúc nãy, chị nộp lên phòng bản kế hoạch dự án được giao làm hơn tháng nay. Để hoàn thành nó, chị phải tranh thủ làm cả trưa ở cơ quan. Chị vội chào đồng nghiệp, bước nhanh xuống lán, lấy xe. Giờ chị qua qua trường tiểu học đón con Hằng, sau đó rẽ qua chợ. Mọi khi Hằng vẫn được bố đón, nhưng hồi nãy Hùng điện chọ chị, báo tin sẽ về muộn đôi chút.
 Hằng đã đợi mẹ ở cổng trường. Hằng cười rất tươi, vui khi thấy mẹ tới đón. Chị dừng xe, để con ngồi ổn định trên xe, mới tăng ga. Mẹ con chị rẽ vào chợ. Chị tranh thủ mua rau , đậu vài thứ lặt vặt rồi vẽ vào con đường bê tông qua khu phố nhỏ về nhà.
Hùng vẫn chưa về. Giờ đã gần sáu giờ tối. Chị ngước nhìn đồng hồ, thoáng lo lắng, rồi tất tả vào bếp nấu cơm. Chị có niềm vui thích đặc biệt mỗi khi vào bếp. Gian bếp tuy nhỏ, nhưng ngăn nắp. Tủ chạn treo, tủ bếp, bồn rửa, tủ lạnh dường như chúng tìm đúng vị trí, ngay ngắn tạo cho căn phòng vẻ thông thoáng trang nhã. Mỗi món ăn, dù là rau Thủy cũng luôn  thay đổi cách chế biến cho chồng con được ngon miệng.
Gần nửa tiếng sau, Hùng  mới về. Cả nhà vui vẻ bên mâm cơm. Hằng ríu rít kể chuyện vừa xảy ra ở lớp.
Sau khi ăn, Hùng ra gường nằm với tâm trạng thỏa mái, phởn phơ. Anh với chiếc SMART FON, bắt đầu lướt WEB. Thằng Hạnh, con Hằng mỗi đữa một góc cũng bắt đầu bận bịu với cái máy điện thoại. Sau khi rửa bát, quay lại thấy cảnh ấy, Thủy cảm thấy không hài lòng :
            - Này anh! Có thôi đi không!
-         Đấy! Lại điệp khúc rồi!
-         Sao nói là điệp khúc!  Anh phải để các con nó học chứ. Chúng mỗi đứa lăn ra một
góc kia- Chị bực bội nói- Không chịu thay đổi gì cả. Nếu muốn thì anh ra chỗ khác mà xem.
-         Anh còn ra chỗ nào nữa. Ngay cả trong nhà anh không còn tự do nữa rồi. Em  theo
dõi, cấm anh không được xem mạng. Thế thì còn gì là niềm vui sống nữa. Cả ngày vất vả, tối về xả hơi chút cũng không được.
-         Sống với anh em anh không vui sao? Vậy thì anh tìm cô khác mà sống. Mẹ con
em sống với nhau- Chị dằn dỗi nói.
-         Đấy ! lại đai ra rồi. Người đâu mà dai như đỉa ấy. Đàn ông sợ nhất các bà vợ nói
nhiều.
            Nghe Hùng nói, mỗi lúc Thủy thêm bực mình: Thì anh đi với người phụ nữ khác. Còn lạ gì anh nữa. Các anh ngồi cạnh vợ mà vẫn còn anh anh em em tán tỉnh với những cô gái trên mạng, gửi ảnh cho nhau. Khối ông còn hẹn nọ hẹn kia,  anh yêu em, em yêu anh. Yêu đương gì kiểu ấy. Chả gặp mặt nhau bao giờ cũng yêu. Yêu cái con chó. Em nói để anh biết. Anh làm gì, ỏ đâu, tiêu bao nhiêu tiền, em biết hết. Không giấu em được đâu. Đàn ông các anh, ai tin được. Gớm! Trời đất, không biết thời này là cái thời gì nữa….
            Hùng vừa cáu giận , vừa ngạc nhiên trước lời lẽ của vợ. Trước đây đâu có thế; Cô ấy dịu dàng, hiền thục. Vậy mà giờ này trông kìa, tru tréo, cay nghiệt, mặt méo đi tái nhợt. Giờ mới thấy con hổ Hà Đông nó thế nào.Tại sao giờ đây vợ chồng hay va chạm, lời qua tiếng lại, lúc vì cái SMARTFON, lúc vì mấy đứa nhỏ, lúc vì anh về muộn. Anh đã ghìm nén lắm rồi. Bảo anh phải từ bỏ thói quen sử dụng điện thoại di động thông minh ư ? Khó quá! Với anh nó như người tình rồi. Nó sở hữu anh, hay anh sở hữu nó. Cũng như vậy, vợ sở hữu anh, hay anh sở hữu cô ấy. Rút cuộc lại, anh không còn là của anh nữa. Anh là của vợ, của cái điện thoại kia. Anh đã nhịn lắm rồi, ức lắm rồi. Vậy mà vợ anh nói: anh đi chỗ khác mà sống, sống với người đàn bà khác. Mà anh có làm gì cơ chứ. Thà cứ như thằng Đỏ, khi vợ tru tréo vì bắt gặp hắn cùng với người đàn bà khác, hắn tỉnh khô nói “  vừa đẻ xong, cô phải chịu thiệt”. Vợ Đỏ có  làm được gì hắn đâu, đành phải nuốt cục ngẹn vào lòng. Còn anh, đứng đắn quá đi  chứ, chưa cờ bạc, gái gú mà hàm oan. Thật tức quá. Tức không chịu được. Anh nói: Ừ thì anh đi chỗ khác sống. Nếu em không còn thích sống với anh. Anh nói rồi đứng phắt dậy, lấy vài bộ quần áo, cho vào cái va ly.
Thủy lúc này bỗng chột dạ, tự hỏi mình đã quá lời rồi chăng. Nhưng phụ nữ vốn kiêu ngạo. Chị nghĩ: thách kẹo anh ấy ra khỏi nhà. Làm sao anh  có thể sống thiếu chị, xa những đứa con. Chị nói: ông thích đi à? Đấy rảnh chân  rồi, đi đâu thì đi. Ngoài kia có con ….đ..nó trông nom ông.
Mấy đứa trẻ, thấy bố mẹ cãi nhau sợ hãi, lấm lét nhìn bố mẹ. Chúng không dám can ngăn. Chúng không hiều để can ngan. Chúng lo sợ trước vẻ mặt hằm hằm giận dữ và đau khổ của bố, khuôn mặt tái đi vì ẩn ức của mẹ.
Hùng đã kéo khóa va ly, bước ra cửa vặn quả đấm cánh cửa…Ngoài kia có  thể là bầu trời tự do, thoáng đãng, cũng có thể….anh không lường được. Hành vi này anh không dự tính, chỉ là do quá nóng giận mà thôi.
Anh bước một chân ra khỏi cửa, vội quay lại. Vợ anh òa khóc. Khóc nức nở. Khóc trong sự hờn dỗi yêu đương. Làm sao anh có thể xa cô ấy, và xa những đứa con yêu cơ chứ. Anh sững sờ, quay lại.
Thằng Hạnh, con Hằng thấy bố quay lại đã bớt sợ hãi. Chúng cầm điện thoại đưa cho bố, nói: bố cầm hộ chúng con máy điện thoại, khi nào chúng con cần, chúng con xin bố.
Anh cầm chiếc điện thoại trên  tay, ngẫm nghĩ:Tất cả là tại mày, SMARTFON ạ! Ngẫm nghĩ giây lát anh lại tự nhủ: không! Không phải tại cái điện thoại. Là tại mình. Vô hình dung mình đã bị bệnh nghiền công nghệ. Ừ thôi! Từ nay phải  tỉnh táo khi sử dụng SMARTFON.

                                                                                    Hưng Yên tháng 4 năm 2017


Tìm hiểu An Nam tứ đại khí


Tác giả: Hồng Liên
Nếu mỗi nền văn hóa lâu đời đều gắn liền với những bảo vật linh thiêng, tựa như Nhật Bản có “Tam Chủng Thần Khí”, Trung Hoa có “Trấn Quốc Chi Bảo”, hay Triều Tiên có “Thiên Phù Tam Ấn”, thì Việt Nam cũng tự hào nhắc đến bốn báu vật thần thánh – “An Nam Tứ Đại Khí”.
An Nam Tứ Đại Khí còn được gọi là Nam Thiên Tứ Bảo Khí, hay Nam Thiên Tứ Đại Thần Khí, gồm có: tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, tháp Báo Thiên, chuông Ngân Thiên (có tài liệu nói là chuông Quy Điền), và vạc Phổ Minh. Đây được coi là 4 kỳ quan, 4 quốc bảo, 4 công trình nghệ thuật dưới thời Lý, Trần.
Vậy thì, vì sao chúng được tôn vinh là “đại khí”, “bảo khí”, hay “thần khí” – nghĩa là những báu vật có thể chấn hưng cả một quốc gia, quyết định đến sự phồn vinh hay suy vong của cả một dân tộc? Chắc hẳn câu trả lời sẽ không chỉ giới hạn ở mức độ bề thế của quy mô, mức độ tinh xảo của nghệ thuật, hay mức độ vĩ đại của tinh hoa và văn hoá. Mà sâu xa hơn, nó còn ẩn chứa nhiều bí mật của cả 4000 năm lịch sử.
Và nếu nhìn lại những “bộ tứ” của Đại Việt, ta có thể thấy tất cả đều là những bậc thánh thần. Ví như An Nam Tứ Bất Tử thờ 4 vị thánh linh thiêng; Hoa Lư Tứ Trấn thờ bốn vị thần trấn giữ các hướng đông, tây, nam, bắc của vùng đất cố đô; hay Thăng Long Tứ Trấn là 4 ngôi đền thiêng thờ các vị đại thần bảo vệ cho kinh thành.
Phải chăng An Nam Tứ Đại Khí cũng cần mang trong mình những yếu tố linh thiêng và cao quý nhường ấy, mới có thể được coi là vật báu chấn hưng dân tộc Việt?
Nhưng có lật giở cả Đại Việt sử ký toàn thư cũng không tìm được lời giải thích cho sự ra đời của tứ đại khí này. Có chăng, thì những cái tên như tháp Báo Thiên, vạc Phổ Minh, hay chùa Quỳnh Lâm chỉ lác đác xuất hiện đôi lần như một công trình nghệ thuật hay một di tích bị tàn phá bởi chiến tranh. Chính sử dường như vẫn luôn tránh né những câu chuyện mang yếu tố thần thoại, trong khi huyền sử lại chỉ được chắp nối qua những lưu truyền và ghi chép dân gian.
Bởi vậy, để tìm lời giải thích cho bốn báu vật nói trên, chúng ta hãy lần theo những truyền thuyết xưa còn để lại. Cho dù nó mang sắc màu huyền thoại, cho dù nó có những yếu tố tâm linh khó giải thích bằng lời, thì dẫu sao đó vẫn là một phần của lịch sử mà dân gian vẫn gìn giữ cho chúng ta đến ngày hôm nay.

(Ảnh minh hoạ)

Câu chuyện bắt đầu từ thời vua Thần Nông khoảng 5000 năm trước đây. Sau khi thống nhất sơn hà, Thần Nông làm phép thu linh khí Hoa Hạ xuống núi Thái Sơn, khiến đồng đen trong lòng núi Thái Sơn kết tinh thành trâu vàng của Trung Hoa. Khi thiên hạ thanh bình hoặc khi có chúa thánh ra đời, thì vào những đêm trăng sáng, trâu vàng lại ra khỏi núi, bay lơ lửng trên không trung, toả sáng cả một vùng.
Núi Thái Sơn vốn là nơi có mỏ đồng đen quý hiếm. Các thầy phong thuỷ Trung Hoa cho rằng đồng đen là mẹ của vàng, bởi vậy các đời vua đều thu thập đồng đen ở Thái Sơn đem cất vào kho, rồi làm phép cho trâu vàng không được rời khỏi núi.
Thời nhà Đường, vua Đường Ý Tông sai Cao Biền sang làm tiết độ sứ tại nước ta. Cao Biền sớm nhận thấy linh khí phương nam cường thịnh nên đã trấn yểm các thế đất, thu tất cả tinh hoa linh khí của Đại Việt vào bụng 36 con trâu vàng rồi đem về giam dưới núi Thái Sơn cùng với con trâu vàng của Hoa Hạ.
Đến đời vua Tống Thái Tông, sau khi bại trận trước quân ta ở Chi Lăng và Bạch Đằng, vua Tống sai đào trâu mang về yểm ở hoàng cung, trong đó có cả con trâu vàng Trung Hoa và 36 con trâu vàng giữ linh khí Đại Việt.
Sau đó, khi hai vị thánh tăng của Đại Việt là Nguyễn Minh Không và Từ Đạo Hạnh vân du đến Trung thổ, các vị đã giúp nhà Tống trừ tà tại hoàng cung nên được vua Tống ban thưởng đồng đen. Hai vị thánh tăng đã làm phép thu hết cả kho đồng đen, đồng thời lấy lại 36 con trâu vàng có chứa tinh anh của dân tộc Việt. Từ đó, linh khí Đại Việt lại rực sáng cả trời nam.
Sau khi trở về, Nguyễn Minh Không và Từ Đạo Hạnh đã dùng số đồng đen thu được đúc thành bốn bảo khí giữ nước, được gọi là Nam Thiên Tứ Đại Thần Khí.
Bởi vì đồng đen là tinh hoa trên núi Thái Sơn, mang trong mình linh khí của trời đất, vậy nên tứ bảo khí của Đại Việt, một cách tự nhiên, đã mang trong mình một sức mạnh thần kỳ.

Núi Thái Sơn nằm tại miền Sơn Đông Trung Quốc.

Bảo khí thứ nhất: Đỉnh tháp Báo Thiên
Chùa Báo Thiên được xây dựng từ thời vua Lý Thánh Tông. Vào niên hiệu Long Thuỵ Thái Bình (1056), vua ngự thuyền ra hồ Tây thưởng ngoạn. Bỗng đâu xuất hiện một người lạ trách mắng vua rằng: “Nhà ngươi làm chúa trời Nam, sao không lo tu đức, sửa sang chính sự mà lại rong chơi? Như vậy vua làm gương cho kẻ xấu, cho bọn tham quan ô lại, cường hào ác bá hà hiếp dân lành. Ta là thần giữ việc mưa gió vùng này. Nay thấy dân khổ nên báo cho vua hay”, nói xong bèn biến mất.
Vua Lý Thánh Tông vội trở về kinh, chấn chỉnh lại triều chính, đồng thời sai người xây chùa để tạ ơn Trời Phật, vì vậy chùa mới có tên là “Báo Thiên”. Sang năm sau, nhà vua lại cho dựng một toà tháp cao 20 trượng (40m) gồm 12 tầng.
Đến đây, hai vị thánh tăng lại dùng đồng đen để đúc nên đỉnh tháp (tầng thứ 13). Cũng kể từ đó những vì tinh tú trên thiên hà đều hướng về phương nam, đêm đêm toả hào quang chiếu sáng đất Thăng Long.

(Ảnh minh hoạ: Wikipedia)

Bảo khí thứ hai: Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm
Bức tượng tại chùa Quỳnh Lâm không chỉ được chế tạo từ đồng đen, mà bên trong còn lưu giữ 18 viên xá lợi của các vị bồ tát Đại Việt, lại thêm 360 viên đá linh khí từ các đền thờ chư thánh và anh hùng của Đại Việt. Bởi chứa tinh anh của dân tộc, nên đây là bức tượng linh thiêng vào bậc nhất cõi trời Nam. Có câu nói rằng, chỉ cần pho tượng vẫn còn thì Trung Nguyên mãi mãi không thể xâm phạm bờ cõi An Nam.
Bảo khí thứ ba: Vạc Phổ Minh
Vạc đặt trong chùa Phổ Minh ở Nam Định. Theo mô tả, vạc nặng ba vạn cân, bên ngoài có hình rồng uốn lượn và hình chim âu đang bay, trên thành có 100 lỗ hình quả trứng tượng trưng cho con Rồng cháu Tiên. Trong mỗi lỗ lại đặt một tượng rồng vàng để tích tụ linh khí của dòng dõi Bách Việt. Bệ vạc khắc tên tất cả các vị vua của dân tộc, từ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, cho đến vua Lý Thánh Tông.
Tục truyền rằng, ngay sau khi vạc được an trí, trên không có tiếng nhạc vang lừng, rồi hàng vạn con hạc từ đâu về bay lượn. Hào quang từ trong vạc phát ra sáng chói một vùng. Ngài Minh Không thấy vậy mới nói rằng: “Không ngờ linh khí tụ nhanh đến vậy. Sau đây trên trăm năm sẽ có giặc phương Bắc, thiên hạ không ai địch nổi. Nhưng nơi đây một vị đại thánh sẽ giáng trần phá tan giặc đó”.
Quả nhiên, mảnh đất ấy là nơi phát tích ra nhà Trần sau này. Còn người anh hùng đó chính là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông.
Bảo khí thứ tư: Chuông Ngân Thiên
Khi nhắc đến thần khí thứ tư, có ý kiến cho rằng đó là chuông Quy Điền ở chùa Một Cột. Nhưng chuông Quy Điền không phải do hai vị thánh tăng đúc nên, hơn nữa cũng không thể hiện được ý nghĩa linh thiêng như ba thần khí còn lại. Bởi vậy, giả thiết này e rằng không hợp lý.
Nói về chuông Ngân Thiên, sở dĩ có tên gọi như vậy là vì tiếng chuông vang rền lên tận trời xanh.
Chuông Ngân Thiên gắn liền với sự tích con trâu vàng dưới lòng Hồ Tây. Chuyện kể rằng, sau khi đúc, chuông được đưa lên đỉnh tháp Báo Thiên. Lúc ấy thần linh đều tụ về nơi này, hai vị thánh tăng mới bắt đầu đánh chuông. Tiếng chuông vang rền, ngân tới tận Trung Hoa. Vì đồng đen là mẹ của vàng, con trâu vàng Hoa Hạ ngỡ là tiếng mẹ gọi bèn vùng lên chạy về đất Thăng Long, rồi sau được trấn yểm dưới lòng Hồ Tây. Gần nơi trâu trầm xuống được dựng đền thờ, gọi là đền Kim Ngưu, nghĩa là đền Trâu Vàng. Người dân Thăng Long vẫn đồn đại rằng, những đêm trời đẹp trâu vàng lại nổi lên mặt Tây Hồ, có lẽ là vì vậy.
Lại nói về quả chuông Ngân Thiên, hai vị thánh tăng cho rằng thần linh Đại Việt tuy nhiều nhưng quỷ ma cũng không thiếu. Trải qua các cuộc chiến tranh, rất nhiều hồn phách của binh sĩ Trung Hoa bỏ mình trên đất Việt vẫn thường quấy nhiễu nhân gian. Bởi vậy, hai vị đã chiêu hồn họ để làm chày giải oan. Với những binh hồn không thể siêu thoát, hai vị lại thu hồn phách của họ vào chuông Ngân Thiên rồi thả xuống sông Lục Đầu. Nơi quả chuông rơi xuống còn được gọi là “đoạ chung lại”, tức vũng chuông rơi.
***
Đến đây ta có thể thấy những yếu tố linh thiêng làm nên Tứ Đại Khí của mảnh đất An Nam. Nó thần thánh, bởi nó được tạo nên từ hai vị thánh tăng bất tử của Đại Việt – Nguyễn Minh Không và Từ Đạo Hạnh. Nó thần thánh, bởi nó hội tụ tất cả linh khí và tinh hoa của 4000 năm lịch sử dân tộc. Và nó thần thánh, bởi đó là những pháp khí gắn liền với Phật và Thần.
Trải qua bao phong ba tuế nguyệt, An Nam Tứ Đại Khí đã chứng kiến những trang sử hào hùng của hai thời Lý, Trần. Người ta nói Lý-Trần là hai thời đại huy hoàng của Đại Việt bởi đây là những triều đại tôn vinh Phật Pháp, coi Phật giáo là quốc pháp cai trị đất nước, và ngay cả nhiều vị vua cũng xuất gia tu hành. Đây cũng là thời kỳ mà những bậc anh tài đã xuất hiện làm rạng rỡ non sông, như Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, v.v. Có lẽ cũng còn một lý do để tin rằng, trang sử huy hoàng đó có đóng góp không nhỏ của 4 bảo khí đất An Nam…

LUẬT ĐỜI


                                                                                                         Truyện ngắn của Hồ Ngọc Vinh

Dây bầu phải đeo nuôi quả bầu. Đấy là luật đời- Ông Hùng nói với Ông Mỗi . Ông Hùng tỏ ra tâm đắc với phát hiện ấy. Khuôn mặt đen đúa, nhàu vì thời gian và vất vả của ông nay phảng phất sự ưu tư.  Đôi mắt với hàng lông mày rậm của ông xa xăm giống hệt đôi mắt của những nhà hiền triết.
Ông Mỗi tán thưởng: ông nói đúng đấy. Cha mẹ yêu thương  con cái. Nhưng bọn trẻ không biết điều ấy. Lúc bé vô tư ngịch ngợm, không nghe lời cha mẹ. Lớn lên cũng vậy. Khi xây dựng gia đình, chúng chỉ biết đến vợ con chúng. Đã mấy  đứa báo hiếu được công sinh thành. Luật đời đấy ! Ông Hùng a!.....
Làng xóm, hơn chục nóc nhà quanh đây, mỗi gia đình chỉ còn có hai người và họ đều ở cái tuổi  năm,  sáu chục tuổi. Cũng như những gia đình khác, bọn trẻ học hành, đi làm xa cả , chúng xây dựng gia đình lập nghiệp ở thành phố, khu công nghiệp, thi thoảng ngày lễ, ngày tết mới đưa vợ con về thăm quê, nên vợ chồng ông Hùng quạnh quẽ ở quê.
Ngày xưa lũ con còn bé, vợ chồng ông Hùng nai lưng làm lụng, đầu ghềnh, cuối bãi chắt chiu từng hạt thóc nuôi con. Ngày, ngày mong chúng khôn lớn. Vợ chồng chủ yếu làm nông nghiệp, trồng cấy đơn thuần nên kinh  tế eo hẹp. Dạo hai đứa, thằng Hoàng và con Hà học đại học, ông bà phai vay vốn chính sách dành cho sinh viên có hoàn cảnh gia đình khó khăn lấy tiền cho con đóng học phí.  Ông Hùng nghĩ: Thôi! Vợ chồng ông đã vất vả, không muốn con cái  như sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy, tiếp tục với cảnh đầu tắt mặt tối với mảnh ruộng, chỉ mong chúng thoát ly khỏi đồng ruộng, nhàn hạ. Thế là ông bà sướng rồi. Vẫn còn nợ đấy, nhưng  còn lại chẳng đáng bao nhiêu. Thằng Hoàng cos lương tháng, bảo gửi tiền về cho bố trả. Ông nói: Con còn nhiều việc. Nợ nhà nước ấy mà. Bố mẹ còn sức, còn có thể trả được. Các anh, các chị tự lo được cho cái thân vậy là được rồi.
Thi thoảng ông Hùng sang hàng xóm tâm sự. Hết chuyện con, lại đến chuyện vợ. Bà Hùng mỗi khi ở nhà một mình, thấy ông đi chơi lâu về, lòng lại lo lắng bực bội. Thấy cái mặt ông trước cổng là té tát: Ông không thể ở yên ở nhà ư! Rảnh một chút là đi. Tôi làm chó giữ nhà cho ông chắc. Ông Hùng nhìn vợ, biết mình sai nên không la lối, lẳng lặng vào nhà.
Ông nghĩ: dịp này bà ấy cấm cảu quá. Chẳng như ngày xưa, còn son trẻ, chiều chồng lấy con, ngày nào cũng âu yếm, mua cho ông rá đỗ và rượu ngon. Không chịu lên giường với bà ấy có mà hỏng đời. Nay vào mỗi tối,vợ chồng xem ti vi một lát, sau mỗi người một giường. Bà không thích nằm cạnh ông bởi mùi đàn ông gây gây, bởi ông ngủ ngáy như sấm. Ông cũng quen dần, nay nằm cạnh bà là khó chịu. Chảng bù cho cái ngày mới lấy nhau, chỉ mong cho trời tối. Mỗi đêm không được cái là không yên giấc nồng. Ông Hùng nói với ông Mỗi. Ông Mỗi dứt khoát không chịu tin.
Ông Mỗi nói: Ông cứ hay dối. Việc ấy có gì phải giấu giếm. Đàn ông khi nào đầu gối hết máu mới hết ham hố. Ở tuổi ông, ngày trước tôi vẫn còn mạnh mẽ lắm.
Ông Hùng: Mỗi người một khác. Giờ  chủ yếu giở ra xem  “tranh” thôi! Mà tranh cũng chẳng thiết xem. Hãi hết vía đi được.
            Ông Mỗi: có thật không đấy! Vậy là cái chất đàn ông trong ông hỏng rồi.
Chuyện về  con, cháu được đề cập nhiều nhất  mỗi khi các ông , các bà gặp nhau. Mỗi gia đình một hoàn cảnh nhưng đều có điểm chung là ga cuối chỉ còn có hai người. Cũng bởi vậy nên hàng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau họ bỗng trở nên thân thiết hơn lệ thường.
Năm nay mùa thu hoạch lúa đã qua rồi. Đường làng bộn bề rơm phơi. Đâu đâu cũng thấy ngai ngái mùi rơm rạ. Lũ gà ngày mùa khảnh ăn, nhỏ nhẻ từng hạt thóc rồi buông. Ông bà Hùng với hơn ba sào ruộng, thu hoạch hơn sáu tạ thóc, gần đủ cho cả năm ăn. Thóc đã được phơi kỹ, quạt sạch cho vào thùng tôn  Giờ rảnh rỗi, ông Hùng lại sang nhà ông Mỗi. Ông Mỗi sống một mình. Vợ ông theo con vào trong nam trông cháu. Trông hết  cháu này tới cháu khác, thành thử ông Mỗi sống đơn thân ở quê, thổi cơm một lần cho cả ngày. Có khi chẳng buồn nấu cơm, chỉ bát mì là xong. 
Ông Hùng: Ngày trước anh em mình mong có con, nuôi con để sau này nhờ cậy lúc tuổi già. Giờ ngẫm lại. Chẳng trông mong được gì ở con cái. Chúng nó đi biền biệt, chẳng mấy khi về nhà. Điện thoại cũng hiếm gọi. Vợ chồng tôi trông cả vào mấy sào ruộng. Thôi! Mình còn khỏe, còn làm được mà ăn. Khi nào không nấu được nồi cơm hãy hay. Vợ chồng tôi trồng rau, nuôi gà chỉ mong lũ con về để làm thịt. Thi thoảng bà ấy lại gửi gạo, gửi rau, con gà, con ngan cho chúng. Của nhà làm ra , toàn là đồ sạch. Thật đúng là già rồi vẫn không hết lo cho con, cho cháu.
Ông Mỗi: ông còn sướng hơn tôi. Mấy đứa con tôi lập nghiệp mãi trong nam. Thằng út đang làm việc tận Hàn Quốc. Nói dại. Ngộ nhỡ mình có mệnh hệ gì, chẳng thể nhìn con lúc nhắm mắt.
Ông Hùng: tôi cũng vậy thôi. Mình không mong gì ở các con đâu ông ơi! Chúng nó có vợ, có con chúng quấn lấy nhau, lo cho nhau chứ.
Ông Mỗi: ừ ! Đúng vậy thật! Ngày xưa mình cũng vậy. Ngẫm lại, càng ngày tôi càng thấy ông đúng. Dây bầu phải đeo bầu thôi. Muôn đời người, nước mắt chảy xuôi. Sinh con, nuôi dạy con âu đó  là tránh nhiệm của đời người.
Ông Hùng bất giác nhớ lại hình ảnh lũ con còn nhỏ, gia đình đoàn tụ yên ấm bên mâm cơm. Lòng cha mẹ có giây phút hạnh phúc nào bằng khi được nhìn ngắm lũ con mỗi ngày một lớn khôn, khỏe mạnh , xinh xắn  Những hình ảnh ấy giờ đây lùi sâu vào ký ức, mỗi khi tái hiện, khiến ông bồi hồi, nghẹn ngào khó tả. Ông thần người. rồi tiếp tục  chuyện với ông Mỗi :các  con tôi càng ngày, càng hiếm về. Công việc ở công ty choán hết thời gian của chúng.
Ông Mỗi: chúng phải đi ca. Mỗi ca mười, có khi tới mười hai, mười ba tiếng đồng hồ. Tan ca là mệt rũ, về đến nhà chỉ có ngủ. Bọn trẻ giờ cũng vất vả.
Ông Hùng:  Giờ, cả cái xóm này, nhà nào cũng vậy, chỉ còn lại cha mẹ quạnh quẽ, sớm chiều nương tựa vào nhau lúc về già.


                                                                                                            Hưng Yên tháng .5. năm 2017…

CẦU TỰ


                                                                         Truyện ngắn của Hồ Ngọc Vinh
-         Trông thì mỡ đấy! Thế mà chẳng khác nào con vịt tịt. Đàn bà không sinh con
nối dõi tông đường cho chồng là loại đàn bà gì- Bà Thảo trề môi nói khẽ dường như chỉ đủ cho một mình nghe mỗi khi nhìn thấy con dâu. Bà Thảo nghĩ: trông nó có đến nỗi nào. Mình thon, mông nở, lồi căng như mông ngựa. Đàn bà như thế theo kinh nghiệm ắt hẳn dễ dàng sinh nở, vậy mà Lành chục năm nay rồi kể từ ngày cưới vẫn chưa có con. Hoàng con trai bà đã đi khám, kết quả tốt. Lành cũng đã đi khám, kết quả cũng tốt. Vậy thì lỗi ở đâu. Thật ra thì vài năm sau ngày chúng nên vợ nên chồng, Lành cũng đã có tin. Bà thịt gà, thắp hương  tổ tiên cầu an, thế rồi mà cái thai lại hỏng khiến mọi người không khỏi lo lắng bực bội..
Có lần nhìn hút theo cái bóng của Lành, bà Thảo buột miệng nói với Hoàng: vợ mày chỉ biết ăn với đái thôi. Hay là trước kia nó chơi bời trác táng nên mới sinh ra như thế.
Hoàng nhìn mẹ, trán cau, mắt nheo vẻ không bằng lòng nói:
            -Mẹ! Sao mẹ nỡ nói con dâu mẹ như thế! Chục năm nay, Lành ăn ở thế nào , mẹ rõ rồi còn gì. Chúng con cũng muốn có con lắm chứ.. Con cái là cái lộc trời cho. Phải cái vía vất vả như thế đành chịu chứ còn biết làm sao.
            -Ừ! Thì có ai bảo nó hư hỏng đâu. Nó chăm làm, ngoan ngoãn. Nhưng người đàn bà không có con có khác gì cây cau điếc. Có đứa con vợ chồng anh chị mới có tương lai. Tôi già rồi. Gần bảy chục tuổi đầu, như người ta thì đã có cháu nội cháu ngoại, thậm chí có chắt. Đây tôi mong mãi đứa cháu mà không được.
            Nhiều năm nay , Lành không thể dứt khỏi suy nghĩ luôn thường trực trong tâm. Lành muốn có con! Muốn lắm! Tháng nào cũng nín thở theo dõi có tin mừng không. Lòng buồn bã mỗi khi hụt hẫng. Lành đã chủ động,  thuốc men cho chồng, cho anh ăn nhiều rau củ quả giàu sinh tố như rá đỗ, hồ tiêu, trứng gà, rượu Ba kích tím có lợi cho sức khỏe nam giới. Hai người chọn ngày để quan hệ. Hoàng cũng khỏe và dai sức. Vậy mà cũng chẳng ăn thua.
            Năm vừa rồi, vào tiết xuân, Lành theo mấy chị em cùng thôn đi lễ chùa Hương. Lành đứng thẫn người trước bức tượng của đứa bé trai được đẽo bằng loại đá thạch anh trắng. Lành chợt thấy khát vọng mãnh liệt có con. Phải chi sớm có con, có  thể con Lành  cũng được  tám chín tuổi rồi. Là con trai, chắc nó ngịch ngợm lắm. Nó đã đi học. Lành mua cho con cái cặp, mấy quyển sách, vui mừng nhìn theo mỗi bước chân con đến trường. Có đứa con, Lành lên đời, sẽ có cái đề duy trì hạnh phúc lâu dài, tự hào với chồng, với gia tộc. Mẹ chồng bớt đi ánh mắt soi mói khó chịu, bớt đi sự trì chiết. Theo kinh nghiệm mọi người kể lại, Lành chạm nhẹ tay vào người thằng bé, đúng vào chỗ con chim của nó, nhắm mắt giây lát, miệng thầm khẽ: Na Mô A Di Đà Phật. Na Mô A Di Đà Phật…Cầu xin Phật phù hộ độ trì cho con sinh đứa con trai…..
            Thật ra Lành đã tới nhiều chùa khác để cầu tự, xong không có kết quả. Chục năm trời sống trong nỗi lo lắng thường trực, sợ chồng ngoại tình, sợ sứt mẻ tình cảm vợ chồng, sợ không có tương lai, sợ ánh mắt bực bội lãnh lẽo của mẹ chồng nên nét mặt Lành nay đầy vẻ ưu tư. Mỗi ngày, nỗi lo ấy một lớn thêm khi hy vọng có đứa con xa dần, tuổi mỗi lúc một cao.
            Bà Thảo nói với Hoàng: Con xem, vợ mày ngày càng đuỗn ra. Nuôi  con gà mái nó đẻ cho trứng. Đàn bà không đẻ được thì có khác nào con vịt tịt. Con vịt tịt là câu nói bà dùng mỗi khi đay nghiến con dâu. Tốt nhất là hai đứa ly dị. Tìm vợ khác kiếm lấy đứa con. Đàn bà khi bản thân không sinh nở được phải có ý thức, đừng có ích kỷ hẹp hòi, hãy tạo  điều kiện cho chồng kiếm đứa con.
            Hoàng nói:  Sao làm thế được hở mẹ. Chúng con làm bạn với nhau hàng chục năm nay, chung lưng đấu cật xây dựng gia đình. Lẽ nào con bỏ cô ấy. Con người chứ có phải mớ rau, mớ cỏ. Nói bỏ là bỏ ngay được.
            Bà Thảo: Anh chỉ được cái giỏi lý luận, song quả thật anh dốt lắm. Anh phải động viên nó, khéo léo với nó. Khối người đàn bà chủ động đi hỏi vợ lẽ cho chồng. Vợ ấy mới là vợ.
            Hoàng: Thật ra nhà con cũng vài lần có tin, nhưng không giữ được. Phôi thai yếu  quá. Con đã một lần hôn nhân không thành công. Nay lại lần nữa con không chịu nổi.
            Bà Thảo tần ngần nói: Thôi! Chuyện xưa nhắc lại làm gì! Bỗng nhiên bà nhớ lại hình ảnh của Dung, người vợ đã ly dị của Hoàng . Dung và Hoàng ly dị nhau sau hơn năm chung sống. Con bé xinh hơn con Lành nhiều, hồn nhiên. Lúc ly hôn nó đã có thai. Hoàng bỏ vợ theo ý của bà. Nghe tin chỉ sau đó vài tháng, nó lấy chồng . Hai vợ chồng Dung lên Thái làm ăn phát đạt, giàu có. Dung có ba đứa con hai trai, một gái.
*
            Vợ trước của Hoảng tên Dung, người làng  Phú Thịnh, có khuôn mặt tròn, cặp mắt có hàng mi cong, lông mày mảnh, đôi môi đỏ, răng trắng nhỏ đều như hạt lựu. Dung có tác phong hoạt bát, nhanh nhẹn, hồn nhiên. Vẻ hồn nhiên tao nên cái duyên thầm  hấp dẫn.
            Đám cưới của họ được tổ chức vào một ngày đầu tháng hai. Mưa xuân nhẹ lây rây không đủ ướt mặt sân, vương trên áo người. Dung mặc áo cưới. Áo cưới vừa khéo  khít khao ôm lấy tấm thân thiếu nữ trinh trắng.
            Bạn bè đỡ Dung bước lên xe. Dung vén vạt áo cưới, ngồi bên cạnh chồng, cảm xúc hạnh phúc ngập tràn.
            Ở nhà được một tuần, Hoàng chia tay vợ mới vào Thanh cùng với đội lắp máy . Đơn vị anh đang lắp máy cho một nhà máy lớn ở Thanh. Dự kiến cuối năm nhà máy sẽ đi vào hoạt động.
            Bà Thảo vốn góa chồng từ hơn hai chục năm trước, ở vậy nuôi con. Cảnh góa bụa, vất vả đã khiến tâm tính bà thay đổi. Từ một người cởi  mở đến thói nghi kỵ. Nếp sống thân thiện, khoan dung mất đi, thay vào đó là sự thù ghét cáu bẳn. Khuôn mặt bà lúc nào cũng cau có, đăm đắm buồn riêng. Cưới Dung về cho con trai, nhìn nhan sắc của Dung, bà dã chột dạ. Vợ xinh rồi ra là vợ người. Nay có người trêu, mai có người trêu. Chồng đi xa, đố mà giữ cho được. Dung lại bắng nhắng thế, hơi một chút là cười. Nụ cười duyên xiêu lều, đổ quán. Bọn đàn ông quanh quẩn xung quanh.
            Từ ngày Hoàng lấy vợ, bà Thảo cảm thấy cô đơn, tủi thân. Bà suy nghĩ , ưu tư : “Con trai quan tâm đến vợ, chẳng để ý gì đến mẹ. Nay chỉ vợ nó là nhất.” Bởi thế bà tức, thậm chí còn ngăn cản cả chuyện phòng the của các con.
            Khi chỉ còn mẹ chồng, nàng dâu trong một căn nhà, hàng ngày, hàng giờ bà Thảo dõi theo từng bước đi của Dung. Bà ghen hộ con trai, cư xử với nàng dâu bằng tất cả sự đố kỵ, ghen ghét tích tụ từ xưa tới nay bởi những buồn đau bà gánh chịu. Bà chửi, bà dè bỉu, thậm chí cầm gậy đánh con dâu.
            Mẹ Dung tên Loan, không thể tin nổi chuyện này. Ngày nay , tân tiến sao có thể có chuyện đó được. Dung kể với mẹ mà mắt nhòa lệ. Dung dùng vạt áo chấm chấm lên khóe mắt. Bà Loan vạch áo con gái, sững sờ khi thấy vết đòn còn bầm tím trên bả vai, trên lưng con. Bà Loan thốt lên : “ Trời ơi! Sao đến nỗi thế này con”. Chợt im lặng, lát sau bà hỏi con  bằng khuôn mặt nghiêm nghị, và ánh mắt có vẻ trách móc :  Hay con đã làm gì….
Dung mếu máo nói: Sao mẹ có thể hỏi con câu hỏi ấy. Mẹ nuôi con ngần ấy năm. Chẳng lẽ mẹ không hiểu con gái mẹ.
Nhìn con gái, Loan ngẫm nghĩ: phải! Từ bé tới giờ, con bé nết na, lam làm, được tiếng là
đoan chính trong cái vùng này. Sao  con bà có thể lăng nhăng được chứ? Loan nói: Nếu vậy. Nếu con không thể ở với gia đình ấy. Mẹ cho con cái quyền………..
Dung nói: Mẹ ơi! Con như ván đã đóng thuyền. Dẫu mẹ chồng như thế. Nhưng còn
chồng con. Chúng con yêu thương nhau. Cuối cùng thì con ở với chồng con là chủ yếu. Anh ấy yêu con, chăm sóc cho gia đình là được. Vả lại con đã có tin rồi mẹ ạ!
            Bà Loan thốt lên hỏi: Thế hả con? Được mấy tháng rồi?
-         Vâng! Được hơn tháng rồi mẹ ạ!
Ngay chiều đó, Dung trở về nhà chồng. Hoàng được nghỉ phép vài ngày về từ Lúc
bốn giờ chiều. Lâu nay nghe mẹ kể, lòng Hoàng bán tín, bán nghi. Thấy Dung về, anh im lặng, nhìn vợ với ánh mắt trách móc thậm chí đôi chút khinh bỉ. Hai người lời qua tiếng lại. Hoàng chỉ vào bụng Dung nói: cô nói thật đi. Cái thai này của ai? Dung sững người không thể tin vào những lời vừa thốt ra từ miệng Hoàng. Dung  cứ nghĩ Hoàng hiều Dung, yêu Dung, tin tưởng Dung. Dung chạy vào buồng trong vùi đầu vào gối cay đắng tức tưởi khóc Bắt đầu từ hôm đó, họ sống ly thân. Niềm hy vọng của Dung về tình yêu, sự hiểu biết của chồng bỗng chốc vụt tắt. Hoàng phủ nhận cái thai đang ngén là của anh. Ghen, nghi kỵ và khinh miệt khiến anh không thể tự chủ mỗi lần về nhà. Có lần Hoàng tóm lấy mớ tóc của Dung, quấn lại, trút giận bằng những cái tát túi bụi vào mặt Dung. ..Nhiều lần như vậy. Cuối cùng, hai người ly hôn.

*
            Bà Thảo chợt nhớ đến Dung. Khi hai đứa ly hôn, Dung đã có thai. Lân la hỏi chuyện được biết về nhà mẹ đẻ sau vài tháng Dung được người đàn ông quê Hà Nam đến hỏi rồi cưới. Hai người hiện ở Thái Nguyên, có cuộc sống hạnh phúc. Bà Thảo thừ người nghĩ:  Cái thai ấy nhất định là của con trai bà. Nhất định thế! Thằng bé là cháu đích tôn của bà. Thật ra bà chưa bắt gặp con bé ngoại tình bao giờ. Ừ! Đúng thế! Nó hồn nhiên, vô tư. Vì không ưa, vì muốn ép con dâu sống với phong cách như bà muốn nên lúc nào bà cũng tưởng tượng ra cảnh nó bị người khác chòng ghẹo. Ừ! Chỉ có vậy thôi.
            Vào một ngày đầu hè, qua  thanh minh, nắng chưa gắt lắm, rạng rỡ phủ xuống không gian, xua đi vẻ xám xịt của những ngày mưa phùn cuối xuân. Ve ra rả kêu trên những lùm xanh. Theo những ngõ nhỏ ngoằn nghoèo, bà Thảo tới nhà bà Loan. Nhìn những đứa trẻ tươi tắn chơi trên đường, dùng những khuôn hình nhỏ xếp hình, có đứa đẩy chiếc ô tô bằng nhựa lăn trên mặt đường bê tông, lòng bà dạy lên ao ước có đứa cháu để bồng bế, để vui tuổi già, để tự tin vào tương lai. Bà sợ nhất là mất giống. Mất giống thì quả thực là tai họa cho gia đình bà. Khao khát đơn giản, với bao gia đình chuyện ấy nhỏ như cái móng tay, nhưng với gia đình bà sao khó khăn . Ông trời thật không công bằng chút nào.
            Sau khi nhấp ngụm nước, bà Thảo bằng giọng trầm chắc, khẩn khoản nói: “Hôm nay, sang đây muốn thưa chuyện với ông bà cho tôi đón cháu về.”
 Không như mọi lần, mỗi khi tiếp xúc với thông gia là mặt bà cau lại, trịch thượng lời nói đanh thép. Lần này bà Thảo ở trong tư thế của kẻ cầu xin. Bà phải xuống thang.
            Bà Loan: Cháu nào của bà ở đây!
-         Thì thằng lớn con nhà Dung đấy. Nó đích thị là cháu tôi, mang dòng máu nhà tôi- Bà
Thảo nói.
Bà Loan: Bà không nói, tôi đỡ đau lòng. Hàng chục năm nay, từ khi hai đứa ly hôn
có bao giờ bà hỏi đến con Dung, đến con nó. Bà một hai đổ cho nó cái tội ngoại tình, không nhận đứa trẻ, đến nỗi vợ chồng chúng phải ly dị. Tưởng mọi việc đâu vào đấy rồi. Nay bỗng nhiên bà sang đòi cháu.
            Mẹ Loan nhớ lại, sau khi ly dị, Dung  hàng tháng không ra khỏi nhà bởi xấu hổ. Nó buồn rầu, khuôn mặt lúc nào cũng ưu tư, suy nghĩ. Mẹ Loan nói: Con cứ an tâm. Cha mẹ thương con. Mọi người rồi rõ thôi. Cây ngay không sợ chết đứng. Nuôi con bà biết tính con  hồn nhiên, vô tư, nghiêm túc trong tình cảm. Cũng như bà, yêu gắn liền với trách nhiệm và lòng tự tôn.
            Khi Dung có người thương, mẹ Loan nói: con phải nói hết với người ta. Người ta có thông cảm, thương yêu thật sự hãy bầu bạn.
            Đến tìm hiểu Dung là người đàn ông gần ba mươi tuổi,” tên Vượng”, vốn là người quen của gia đình, có thời gian theo bố Dung đi làm ăn ở Bắc Ninh.  Anh có khuôn mặt vuông , mắt có hàng lông mày rậm. Thoạt trông đã thấy  vẻ chất phác, phúc hậu. Nghe Dung kể, anh xúc động. Đôi mắt anh  nhìn Dung thiết tha, đồng cảm.
Vượng nói: Anh  biết! Anh hiểu những gì mà em phải chịu đựng. Đã  từ lâu anh quý
Em. Ngày em đi lấy chồng anh tưởng không thể sống nổi. Anh sẽ coi đứa bé như con anh, thương yêu, chăm sóc cho nó.
            Dung khóc. Nước mắt rớm trên mi. Niềm tin, niềm hạnh phúc bình dị chợt đến dúng vào lúc trái tím  bị tổn thương, khao khát được cảm thông, chia sẻ. Lẽ nào Dung không vui.
            Vậy là sau khi cưới, vợ chồng Vượng chuyển lên Thái làm ăn. Họ có với nhau thêm hai đứa con một trai, một gái. Thi thoảng năm hết, tết đến hay vào những ngày lễ, vợ chồng cho các con về thăm ngoại. Ông bà Loan vui vẻ nhìn lũ cháu tung tăng chơi ngoài sân, ra vườn hái ổi. Ông bà an tâm vì hạnh phúc của con gái.
            Bà Thảo: ngày trước, cũng đôi lúc tôi không phải với cháu. Là con, bố mẹ đánh cửa trước con vào cửa sau, nhẫn nhịn thì ai lỡ đụng đến…. Dung nó không được như thế.
            Bà Loan hơi bực mình, khi nghe bà Thảo phân trần. Hình dung lại những vết đòn chẳng khác đòn thù trên lưng, trên vai Dung khi nó bụng mang dạ chửa, bà Loan hết sức bực tức, nói, giọng pha chút chua chát: bà không nên đến đây tìm cháu. Cả cậu nữa. Không có đứa con nào của cậu ở đây cả. Cậu và mẹ cậu đã làm nó đau đớn, khổ sở đến cùng cực. Chỉ thiếu nỗi hóa điên vì mẹ con cậu. Thằng bé ở với bố mẹ nó trên Thái. Nó không phải là con cậu.
            Rời nhà bà Loan ra về, trong lòng bà Thảo vẫn không hết dấm dứt. Thằng bé không phải là cháu bà điều này đúng sai chưa rõ. Nhưng chẳng hiểu sao, bà luôn có niềm tin, có đích thực là cháu bà, con của Hoàng. Linh tính nói cho bà điều đó. Vả lại, nghe mọi người kể. Thằng bé lớn lên, càng ngày càng giống Hoàng. Bằng mọi giá bà phải đưa thằng bé về sống với bố nó. Điều này càng khẩn thiết hơn khi mà Lành chục năm trôi qua vẫn không cho bà đứa cháu. Dòng họ nhà bà đến đây không thể tuyệt tự.

            Vào một buổi sáng không lâu sau đó, trong căn nhà của vợ chồng Dung, bà Thảo cùng Hoàng ngại ngùng không biết bắt đầu câu chuyện như thế nào. Bà Thảo nhìn quanh căn nhà như muốn tìm cái gì đó. Hoàng nhìn ra đồi chè bên ngoài. Những luống chè xanh, xanh ngắt bao phủ cả vạt đồi. Rất xa về phia cuối đồi vài khóm mai xanh mỡ màng. Dưới khóm mai là những nếp nhà xinh xắn, mái thái, ngói đỏ tươi. Hoàng nghĩ: chẳng biết vợ chồng Dung lên đây từ khi nào. Từ lúc ly hôn, họ không có tin tức gì về nhau.
            Bà Thảo: hôm nay tôi đến đây , mong anh chị thông cảm, cho chúng tôi đón cháu về.
            Dung: Cháu nào ạ?
Bà Thảo: Thì cháu tôi chứ ai? Chị biết còn hỏi.
-Sao  bà nói vậy? Dung  chột dạ . Chị liếc nhìn Hoàng. Bao năm nay mới gặp lại. Giờ
Hoàng già đi nhiều so với độ tuổi. Khuôn mặt đen nhám, hốc hác, đôi mắt biểu lộ nỗi buồn riêng. Bất giác Dung cảm thấy thương hại người đàn ông này. Dẫu sao giữa họ cũng có những tháng ngày hạnh phúc ngắn ngủi. Nhưng rồi, trong lòng lại dậy lên những cảm xúc đau đớn, tủi hổ trước đây Dung đã từng chịu đựng. Tình yêu, tình thương trong chị với Hoàng tắt ngấm còn lại đó là sự thương hại xen lẫn với cảm giác tức giận.
-         Thằng Cò là máu mủ của con trai tôi. Anh chị nên cho cháu về ở với bố cháu. Đấy là
việc làm có đức.
            Dung đau đớn nhớ lại lúc còn là dâu con của bà Thảo. Bà cầm cái đòn bằng gỗ vuông, dài nửa mét, nhốt chị vào buồng, quật chị tới tấp, không nương tay như để trút giận. Dung hai tay ôm đầu, ngồi thụp tránh những đòn đánh vào đầu, vào bụng ảnh hưởng đến thai. Bà Thảo: Mày ăn nằm với thằng nào? Mày đừng hòng làm nũng với con trai bà. Nó về nó cho mày một trận. Cút….cút khỏi nhà này…
Nghĩ vậy Dung nói bằng giọng uất ức: “ Không! Cháu không mang dòng máu của nhà bà. Chị nói mặc dù biết mình đang dối.
-         Không! Nó là cháu tôi.!- Bà Thảo chợt sững người khi thấy đứa trẻ trai độ chục tuổi
vào nhà. Không chú ý thới khách, thằng bé ào tới mẹ.
-         Con chào bà, chào bác đi!
-         Cháu chào bà, chào bác!
-         Trời ơi! Nó giống cha nó lúc nhỏ. Mặt trái xoan, sống mũi dọc dừa, miệng rộng.
Đúng nó là cháu bà rồi. Không thể nhầm  lẫn!  Bà khẳng định, đồng thời ký ức kéo bà về với những ngày tháng xưa. Bà đã từng  rủa xả: “ Thai ấy không phải của thằng Hoàng! Không phải của thằng Hoàng. Đàn bà không biết tự trọng, không còn biết xấu hổ.
Trong khi Hoàng bối rối không biết nói gì. Bà Thảo nảy suy nghĩ; “ Nếu Dung cố tình không thừa nhận. Bà cùng Hoàng cũng tìm cách đưa thằng bé về. Nó phải được chăm sóc bởi bố nó, bởi bà nội. Bà Thảo đứng dạy, đi tới chỗ thằng bé, suýt nữa ôm chầm lấy cháu. Bà cầm tay thằng bé trong khi đứa trẻ vùng vằng. Bà nói: “ bà là bà nội của cháu. Đây là bố của cháu. Bà đến đón cháu về. Ra đây bà cho quà.”
      Thằng Cò giằng tay ra đứng nấp sau lưng mẹ. Nó không hiểu việc gì đang xảy ra. Nó
ngạc nhiên, thậm chí sợ hãi nhìn người xưng là bà nội của nó, và kia là bố đẻ của nó. Thằng Cò nói: Không! Bà không phải là bà nội cháu. Bố cháu là bố Vượng.
            Hoàng nhìn thằng Cò. Anh nhận ra vẻ thân thuộc trên khuôn mặt, và hình dáng của nó. Sao không thể nhận ra con mình kia chứ. Anh xấu hổ khi nhớ lại lúc bực tức ruồng rẫy Dung. Anh đã phủ nhận thai là của mình. Anh đã làm Dung đau khổ, xấu hổ trước  hàng xóm. Lúc ấy, anh chỉ nghĩ được một điều, càng làm cho Dung xấu hổ, bẽ bàng trước mọi người càng tốt.
-         Đấy bà xem! Cháu nó nói không phải là cháu bà- Dung nói- Chị chợt cảm thấy xót
Thương, thông cảm cho bà Thảo và Hoàng. Nhưng lại nghĩ: chục năm qua Hoàng và bà Minh không một lời thăm hỏi. Động cơ nào họ nên đây nhận con, nhận cháu. Rõ là không phải vì tình cảm yêu thuơng, ý thức trách nhiệm. Đó chỉ do động cơ ích kỷ của con người. Cò cần tình thương của mẹ, của bố Vượng. Anh ấy thương yêu nó, chẳng hề phân biệt nó với những đứa khác. Chị đã có riêng cho mình một người đàn ông biết khoan dung, giàu tình cảm, có một gia đình yên ấm, hòa thuận. Dung nói: “ Cò không phải là cháu bà. Nó mang họ Vũ chứ không phải họ Đinh.”
            Bà Thảo bực dọc không dứt kể từ lúc từ Thái Nguyên trở về. Con Dung cũng đáo để thật. Nó ác tâm không cho bố con , bà cháu được nhận nhau. Bất chợt bà chạnh lòng nhớ lại hình ảnh của Dung,  căn nhà này một thời ngập  tràn bóng dáng thon thả của nó, nét hồn nhiên của nó.
            Chợt nhìn thấy Lành đi vào, bà Thảo bực dọc nguýt theo, nói: cái đồ sõng lưng. Đàn bà không sinh con  thì là cái thá gì. Không đẻ được thì về nhà mẹ đẻ. Cho Hoàng lấy vợ khác. Khối người phụ nữ biết hy sinh cho chồng đấy.
*
            Mấy tháng sau Lành lầm lũi về nhà mẹ đẻ. Lòng chua xót, đau đớn tràn đầy vì hạnh phúc đã vuột khỏi tầm tay. Đi đâu chị cũng che mặt bằng cái nón sùm sụp.
            Song cũng chỉ vài tháng sau, Lành tái hôn với một người đàn ông ở làng bên. Hai người rất nhanh chóng sinh con. Rổ rá cạp lại những vẫn tròn vạnh như trăng rằm tháng tám.
            Hoàng lấy vợ khác, người xã bên tên Thủy. Thủy chăm chỉ nhưng tính nết cương cường, nói năng bỗ bã, chẳng biết nhường nể một ai. Bà Thảo mỗi lần bị Thủy đối đáp chua chát, lại nhớ tới hình ảnh của hai con dâu trước, tiếc nuối, nhưng đành bấm bụng, chẳng thể san sẻ được  với ai. Hoàng mỗi ngày thêm cục cằn, nhưng trước thái độ cương cường của Thủy, cũng đành chịu. Nói quá, lỡ tay vũ phu đánh Thủy là teo liền. Thủy chẳng bao giờ chịu nhịn chồng. Hắn mà đánh Thủy, liệu chừng thọt cà tới cổ.
            Bà Thảo đi lễ chùa. Mỗi lần vào chùa là mỗi lần  đem theo sính lễ cầu tự, mong con dâu sớm có thai. Bà chắp tay khấn khứa: Na Mô A Di Đà Phật. Con lạy trời ! Lạy Phật! Lạy thánh mớ bái  cho thằng Hoàng, con Thủy sớm có con. Vợ chồng chúng cho tôi đứa cháu để vui tuổi già.
                                                                                                            Hưng Yên tháng  năm 2017
-          


            


          Những quan niệm dân gian về ‘3 hồn 7             vía’ của con người

                                       Nguồn: Đại Kỷ Nguyên

Xưa nay, người ta vẫn thường nói “ba hồn bảy vía” hoặc “ba hồn chín vía” hay “hồn xiêu phách lạc”. Vậy dân gian quan niệm như thế nào về hồn vía?


Sau khi mất, linh hồn con người sẽ tồn tại ở một tầng không gian khác. (Ảnh minh họa)
Nhiều người cho rằng chết là hết, thế nhưng hoàn toàn không phải. Khi bạn mất đi, linh hồn của bạn vẫn tồn tại ở một tầng không gian khác. Theo các chuyên gia về tâm linh, cơ thể con người được chia ra làm thể hồn, thể vía và thể xác. Còn trong dân gian, ta thường hay nói “ba hồn bảy vía”.
Hồn vía (phách) là gì?uất phát từ Đạo gia, khái niệm hồn phách xâm nhập cuộc sống dân gian. Vía chính là Phách theo cách gọi của người Việt.
Đạo gia quan niệm con người ta khi còn sống có thân (xác), trú trong thân xác đó có thần, hồn, phách, ý và trí.
Vụ Thành Tử chú ”Thái Vi Linh Thư” viết :
Tam hồn: Người ta hồn có ba, là: Sảng Linh 爽 靈, Thai Quang 胎 光, và U Tinh 幽 精. Mỗi tháng cứ ngày mồng 3, 13, 23 là hồn lìa thân xác đi chơi, phải biết phép nhiếp hồn.
Thất phách: Phách có bảy, là: Thi Cẩu 尸 苟 Phục Thỉ 伏 矢, Tước Âm 雀 陰, Thôn Tặc 吞 賊, Phi Độc 非 毒, Trừ Uế 除 穢, và Xú Phế 臭 肺. Mỗi tháng các ngày Sóc 朔 (Mồng 1), Vọng 望 (15) Hối 晦 (30), là phách lưu đãng, giao thông với quỉ mị, cần phải biết phép hoàn phách.
Hồn là Dương thần, Phách là âm thần cư trú trong cơ thể con người.
Sách Hoàng đế Nội kinh nói: “Hồn Phách đầy đủ mới thành hình người”.
Tiết Bạch Sinh chú : “Khí và hình thịnh thì hồn phách thịnh; Khí và hồn suy thì Hồn Phách suy. Hồn là sự rạng rỡ của Phách, Phách là gốc gác của hồn. Phách là âm chủ về tiếp nhận và cất trữ, nên Phách có thể ghi nhận sự việc. Hồn thì dương chủ về sử dụng, nên Hồn có động tác và phát huy. Cả hai Hồn và Phách không thể xa lìa nhau. Tinh tụ thì Phách tụ; Khí tụ thì Hồn tụ, tạo thành cơ thể con người. Đến khi tinh kiệt thì Phách giáng, khí tán thì Hồn rong chơi bên ngoài (thân thể) mà không biết nơi nào …”.
Chu Tử nói: “Không có Hồn thì Phách không thể tự tại, khiến người ta đa tư lự. Hồn nóng Phách lạnh, Hồn động Phách tĩnh”. 
Ngoài ra trong Tiên học diệu tú của Lý Lạc Cầu đã cho đến 10 thuyết khác nhau về hồn phách. Tuỳ theo mỗi ngữ cảnh cụ thể mà khái niệm hồn phách khác nhau.
Tóm lại có thể hiểu rằng, Hồn và Phách (Vía) là hai dạng thần thể cư ngụ trong thân xác con người ta. Khi còn sống Hồn Phách còn, khi chết đi Hồn bay lên( thăng) phiêu du đâu đó. Còn Xác thân và Phách thì tiêu tan. Vì vậy trong dân gian mới có hiện tượng lên đồng gọi hồn, cầu hồn người chết chứ không có gọi phách, cầu phách người chết bao giờ.
Từ khái niệm Hồn có ba (Sảng Linh, Thai Quang, và U Tinh) và Phách có bảy (Thi Cẩu, Phục Thỉ, Tước Âm, Thôn Tặc, Phi Độc, Trừ Uế, và Xú Phế) mới nói người ta có ba hồn bảy vía là như vậy.
Một thuyết nữa là theo Chu Tử toàn thư nói : “Hồn thuộc Mộc, Phách thuộc Kim” cho nên nói tam hồn thất phách là vì đó là độ số của Mộc và Kim?
Còn nói Nam có ba hồn và bảy vía do phụ vào thất khiếu, Nữ có ba hồn và chín vía do phụ vào cửu khiếu. Nhưng dò tìm trong các tài liệu về Đạo gia chưa thấy khái niệm như vậy.
Giả thuyết được đặt ra là: Các đạo sĩ phần đa (hầu như toàn bộ) là nam giới, nên họ chỉ khám phá con người nam giới. Còn con người của nữ giới bị bỏ ngỏ.
Theo quan niệm dân gian, khi sự sống không còn nữa, hồn vía của con người sẽ thoát ra ngoài cơ thể tạo thành thể hồn và thể vía. Hai thể này tiếp tục tập hợp lại thành một khối hình tròn có năng lượng và phát sáng. Khối tròn này đi theo suy nghĩ, đi theo ánh sáng, tốc độ chỉ trong chớp mắt. Khối tròn đó tồn tại trong thế giới siêu hình và người ta gọi là vong linh.
Khi thể hồn và thể vía đã xuất hết ra khỏi cơ thể (con người thực sự chết) thì không bao giờ nhập lại cơ thể đó nữa.
Trong những trường hợp đặc biệt, thể hồn và thể vía vẫn quay lại nhập xác để hoàn hồn mà sống lại. Một vài trường hợp khác, thể hồn và thể vía của người khác nhập vào, khi hoàn hồn sống lại thì trở thành con người hoàn toàn khác trước.

Sau khi con người chết đi, linh hồn sẽ rời khỏi cơ thể.
Một số cách gọi hồn vía người mất theo dân gian:
– Ở dân tộc Kinh, mỗi khi có người ốm “thập tử nhất sinh” hoặc bị tai nạn “bất tỉnh nhân sự”, tính mạng bị đe dọa thì người ta thường trèo lên mái nhà hoặc chạy ra ngã bảy, ngã ba mà vừa đi về vừa gọi hồn vía người bị nạn để mong cho họ đừng “bỏ đi” xuống “suối vàng”.
Hoặc giả, nếu họ có chết thì hồn khỏi bị lạc đường, bơ vơ dễ sa vào bàn tay bọn ma quỷ “vô lại”, làm công cụ để hại người lương thiện. Sự gọi hồn ấy, tùy theo người bị nạn là nam hay nữ mà gọi ba hồn bảy vía hay ba hồn chín vía.
Dân gian có nhiều cách “gọi hồn” với hy vọng mong manh người gặp nạn sẽ sống lại.- Còn một số miền quê Bắc Bộ, với những người bị chết đuối, người thân sẽ dùng sàng, sàng qua sàng lại được gọi là chao vía với mong muốn vía người bị ngã xuống nước trở lại thể xác.
– Đồng bào dân tộc thiểu số cũng có quan niệm về hồn vía như trên, có điều hồn vía được phân biệt thêm là có vía lành, vía dữ. Khi chết, vía lìa khỏi xác và hồn đi sau cùng. Người Tày, Nùng không gọi hồn như người Kinh, người ta tổ chức hát then, cúng tế để gọi hồn người chết về.
Khi người vĩnh biệt trần thế thì thể xác từng phần chết đi, từ việc không còn nhận thức được gì nữa (mất hồn), đến việc tai điếc, mắt mờ, mồm cứng, không còn duy trì nhịp thở bình thường (vía dần tan rã).
T